Thông nguồn vốn Kho bạc Nhà nước: Giảm áp lực thanh khoản, cắt cơn sốt lãi suất

0:00 / 0:00
0:00
Quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có hiệu lực từ ngày 1/8/2026 giúp thanh khoản ngân hàng bớt căng, kỳ vọng giúp lãi suất toàn thị trường hạ nhiệt. Tuy vậy, các chuyên gia cho rằng, quy định mới chỉ giúp hạ nhiệt thanh khoản trước mắt, vẫn cần giải pháp căn cơ hơn về nguồn vốn trung và dài hạn.
Với các quy định vừa được NHNN ban hành cũng như hàng loạt quy định trước đó, lãi suất toàn thị trường sẽ hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm nay. Ảnh: Đ.T Với các quy định vừa được NHNN ban hành cũng như hàng loạt quy định trước đó, lãi suất toàn thị trường sẽ hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm nay. Ảnh: Đ.T

Phối hợp chính sách tiền tệ, tài khóa ngày càng nhuần nhuyễn

Tuần qua, NHNN ban hành Quyết định số 1743/QĐ-NHNN về tỷ lệ khấu trừ số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) theo quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 25/2026/TT-NHNN. Theo đó, NHNN nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào LDR lên 50%, thay vì mức 20% hiện hành. Quy định sẽ được áp dụng trong 2 năm (từ ngày 1/8/2026 đến hết 31/7/2028).

Việc nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào LDR từ mức 20% như hiện hành lên 50% như quy định mới sẽ giúp giảm chỉ số LDR tại nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước (BIDV, Vietcombank, VietinBank, Agribank và MB), vì đây là các ngân hàng có quy mô tiền gửi Kho bạc Nhà nước lớn. LDR giảm đồng nghĩa với các ngân hàng trên có thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, giảm áp lực huy động vốn, từ đó giảm áp lực lên mặt bằng lãi suất trên thị trường.

Trước đó, trong Nghị quyết số 168/NQ-CP ban hành ngày 27/6/2026, Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính và NHNN tiếp tục nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại, nhằm bổ sung thanh khoản cho hệ thống, qua đó hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Cụ thể, Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ động quyết định hạn mức sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại. Nếu cần thiết, hạn mức này có thể vượt 50% số ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi (theo quy định cũ, tổng hạn mức sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại và mua lại có kỳ hạn trái phiếu chính phủ không được quá 50% số ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi trong quý).

Các chuyên gia cho rằng, việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào LDR lên 50% cho thấy sự phối hợp ngày càng nhuần nhuyễn giữa chính sách tài khóa và tiền tệ. Sự linh hoạt lưu chuyển dòng tiền từ Kho bạc Nhà nước sang hệ thống ngân hàng sẽ giúp vòng quay của tiền chảy nhanh hơn, giúp dòng tiền không bị kẹt trong hệ thống.

Ông Nguyễn Minh Tuấn, Tổng giám đốc AFA Capital cho hay, tình trạng tiền thừa trong Kho bạc Nhà nước, trong khi hệ thống ngân hàng lại thiếu vốn trầm trọng dẫn đến lãi suất ngân hàng tăng cao đã xảy ra năm 2023. Vì vậy, cơ chế linh hoạt điều chuyển dòng tiền giữa “túi phải” và “túi trái” (Kho bạc Nhà nước và hệ thống ngân hàng) là rất quan trọng, tránh ách tắc dòng tiền.

Ngay sau khi quy định mới được ban hành, thị trường tài chính đã phản ứng rất tích cực. Trong phiên giao dịch ngày 30/7, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường liên ngân hàng đã giảm xuống 0,7%, mức thấp kỷ lục nhiều năm qua.

Mặc dù việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào LDR lên 50% chỉ tác động chủ yếu đến 5 ngân hàng thương mại có vốn nhà nước (Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank, MB), song các ngân hàng này chiếm hơn 50% thị phần tín dụng và huy động toàn hệ thống, nên quy định mới sẽ làm giảm áp lực huy động vốn lên nhóm ngân hàng này, cũng làm giảm áp lực huy động vốn lên toàn hệ thống.

Dự báo, với các quy định vừa ban hành của NHNN và hàng loạt quy định “nới thanh khoản” trước đó, lãi suất toàn thị trường sẽ hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm nay. Tất nhiên, với chênh lệch huy động/cho vay như hiện nay, lãi suất huy động không thể giảm sâu, mà sẽ hạ nhiệt từ từ, ít nhất là sẽ không còn tiếp tục leo thang.

Vẫn cần giải pháp dài hạn

Mặc dù đánh giá cao việc linh hoạt điều hành nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước, song các chuyên gia cho rằng, đây vẫn chỉ là giải pháp tình huống. Giải pháp của NHNN mới chỉ gỡ được khó khăn về thanh khoản ngắn hạn, trong khi nhu cầu vốn trung, dài hạn cần các giải pháp căn cơ hơn.

Ông Phan Lê Thành Long, Chủ tịch sáng lập AFA Group, Chủ tịch, kiêm đồng sáng lập Cộng đồng Cố vấn tài chính Việt Nam (VWA) cho rằng, việc điều hành linh hoạt nguồn tiền gửi có kỳ hạn tại Kho bạc Nhà nước là cần thiết, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số mà vẫn đảm bảo ổn định vĩ mô. Theo đó, nguồn lực để dành cho đầu tư công không “nằm chết” tại Kho bạc Nhà nước, mà được sử dụng linh hoạt hơn trong hệ thống ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Nền kinh tế vẫn phụ thuộc vào vốn ngân hàng

Hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng.

- Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, NHNN

Dù vậy, theo chuyên gia này, các giải pháp trên vẫn là ngắn hạn. Về dài hạn, vẫn cần các giải pháp căn cơ, lâu dài hơn, đó là phải phát triển được thị trường vốn, đặc biệt là vốn bền vững, vốn xanh.

Theo các chuyên gia phân tích, quy định mới của NHNN dù đã tạo thêm dư địa để các nhà băng cung ứng vốn cho nền kinh tế, song không tạo ra nguồn tiền mới cho hệ thống. Nói cách khác, nền kinh tế vẫn rất khát tiền cho nhu cầu đầu tư phát triển giai đoạn tới.

Trong báo cáo vĩ mô vừa công bố, nhóm phân tích Công ty Chứng khoán ACBS cho rằng, mặt bằng lãi suất trong nước khó có dư địa giảm trong ngắn hạn. Tính đến ngày 10/7, tăng trưởng tín dụng đạt 7,91% so với đầu năm, vượt trội so với mức tăng trưởng huy động (6,07%), đẩy khoảng trống thanh khoản của hệ thống lên tới khoảng 2,7 triệu tỷ đồng.

TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia cũng cho rằng, kênh tín dụng ngân hàng đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy và điều cấp bách nhất hiện nay là tái cấu trúc hệ thống dẫn vốn.

Theo chuyên gia này, thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư của Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa, nhưng phát triển chưa tương xứng. Đầu tư công cũng còn khả năng mở rộng, song hiệu quả sử dụng vốn cần tiếp tục được nâng cao khi quy mô đầu tư ngày càng lớn.

Những năm gần đây, hành lang pháp lý về trái phiếu doanh nghiệp doanh nghiệp đã được cải thiện, song lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành vẫn còn nhỏ bé so với quy mô tín dụng.

Đáng mừng là, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045.

Đề án đưa ra mục tiêu phát triển thị trường tài chính theo hướng cân bằng về cơ cấu, có sự liên kết, hỗ trợ giữa các cấu phần của thị trường; phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán công khai, minh bạch, tăng quy mô và độ sâu, tăng cường hiệu quả huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp và nền kinh tế, đẩy mạnh huy động vốn thông qua chào bán cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng; nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán, các định chế tài chính trung gian.

Bên cạnh đó, phát triển cơ sở nhà đầu tư theo hướng bền vững, ưu tiên phát triển nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực tài chính; tăng tỷ trọng nhà đầu tư có tổ chức để phát triển cân bằng hơn giữa nhà đầu tư tổ chức và nhà đầu tư cá nhân. Phấn đấu đến năm 2030, giá trị tài sản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường vốn, thị trường chứng khoán đạt khoảng 15% GDP; tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư chứng khoán đạt 5% GDP; quy mô tổng tài sản các quỹ hưu trí tăng trưởng bình quân 11,5%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030.

Đề án cũng đặt mục tiêu hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, nâng cao chất lượng tín dụng, phát triển ngân hàng số, tài chính toàn diện và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng; phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn, bền vững, đóng góp tích cực cho ổn định tài chính, an sinh xã hội và đầu tư dài hạn.

Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án đưa ra 8 nhóm giải pháp cần thực hiện, bao gồm nhóm giải pháp về thể chế chính sách; sản phẩm, hàng hóa; cơ sở nhà đầu tư; phát triển các định chế tài chính trung gian và các tổ chức cung cấp dịch vụ; hạ tầng thị trường, ứng dụng công nghệ thông tin; quản lý giám sát, điều hành thị trường; hội nhập tài chính, nâng hạng thị trường chứng khoán và triển khai Trung tâm tài chính quốc tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tài chính và phổ cập kiến thức tài chính.

Hà Tâm
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục