Dự báo trong những tháng cuối năm 2026 lãi suất vẫn cao. Ảnh: Lê Toàn
Lãi suất tiết kiệm chưa hết áp lực
Không ít nhà băng đã điều chỉnh giảm nhẹ lãi suất sau khi bị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) "tuýt còi". Tuy nhiên, sau đó một số ngân hàng tăng trở lại. Thậm chí, có ngân hàng niêm yết lãi suất chỉ 6-7%/năm cho kỳ hạn 6-12 tháng, nhưng thực tế vẫn chi trả tới 9%/năm cho kỳ hạn 6 tháng và 9,1%/năm cho kỳ hạn 12 tháng đối với các khoản tiền gửi trước đó.
Trong nhóm ngân hàng số và ngân hàng thương mại có lãi suất cao, Cake by VPBank đang triển khai chương trình ưu đãi giúp lãi suất thực nhận tối đa đạt 8,9-9,2%/năm đối với khách hàng gửi tiết kiệm kỳ hạn 10-12 tháng. Vikki Bank áp dụng mức lãi suất 7,9%/năm cho các khoản tiền gửi lớn, kỳ hạn 13 tháng. Trong khi đó, từ ngày 20/7, BVBank phát hành chứng chỉ tiền gửi online với lãi suất lên tới 8,2%/năm. Riêng kỳ hạn 15 tháng hoặc khách hàng lựa chọn phương thức nhận lãi hàng tháng được hưởng mức lãi suất linh hoạt 7,64-8,06%/năm.
Trong báo cáo triển vọng ngành ngân hàng công bố mới đây, Công ty Chứng khoán KBSV nhận định, áp lực huy động vốn của hệ thống vẫn chưa hạ nhiệt. Thanh khoản của ngân hàng tiếp tục chịu sức ép khi tăng trưởng tín dụng vượt huy động, trong khi yêu cầu ổn định lạm phát và tỷ giá khiến dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ của NHNN thu hẹp đáng kể so với năm 2025. Đây là một trong những nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục duy trì ở mức cao.
KBSV cũng cho rằng, lãi suất huy động nhiều khả năng đã tiến sát vùng đỉnh và sẽ duy trì mặt bằng cao trong quý III trước khi hạ nhiệt dần từ đầu quý IV/2026. Kỳ vọng này dựa trên cơ sở áp lực từ giá dầu và lạm phát có thể giảm bớt nếu tình hình địa chính trị quốc tế diễn biến thuận lợi, tỷ giá VND/USD tiếp tục ổn định, giải ngân đầu tư công tăng tốc giúp bổ sung thanh khoản cho hệ thống, đồng thời các giải pháp điều hành của NHNN nhằm giảm áp lực huy động vốn phát huy hiệu quả từ quý III.
Ông Suan Teck Kin, Giám đốc Khối nghiên cứu thị trường và kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) phân tích, với lạm phát bình quân đạt 4,38% và lạm phát cơ bản đạt 4,12% trong 6 tháng đầu năm 2026, đều dao động quanh ngưỡng điều hành 4,5% của Chính phủ, áp lực lạm phát hiện không còn đáng lo. Thách thức đối với NHNN là điều hành một nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh, trong khi vẫn phải đối mặt với áp lực lạm phát, cân đối đối ngoại và theo dõi chặt chẽ diễn biến tỷ giá. Vì vậy, lãi suất trên thị trường khó có thể giảm sâu.
TS. Châu Đình Linh, giảng viên Trường đại học Ngân hàng TP.HCM chỉ ra, để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư, ngân hàng phải duy trì lãi suất huy động ở mức "thực dương", tức lãi suất tiền gửi cao hơn tỷ lệ lạm phát. Hiện lạm phát đã tiệm cận 4% và dự báo có thể vượt ngưỡng 4,5% vào cuối năm do các yếu tố "chi phí đẩy" từ giá năng lượng và hàng hóa nhập khẩu. Bên cạnh đó, việc tăng lương cơ sở từ tháng 7/2026 cũng tạo thêm áp lực lên mặt bằng giá cả. Vì vậy, lãi suất huy động khó có thể thấp hơn mức lạm phát và rất khó giảm sâu. Để giữ chân khách hàng, các ngân hàng buộc phải duy trì mặt bằng lãi suất khoảng 7-8%/năm đối với các kỳ hạn dài.
Trong bối cảnh NHNN đồng thời phải thực hiện nhiều mục tiêu như kiểm soát lạm phát, hỗ trợ giảm lãi suất và ổn định thị trường ngoại hối, dư địa điều hành chính sách tiền tệ không còn nhiều. Các chuyên gia tài chính - ngân hàng khuyến nghị, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần phát huy mạnh hơn vai trò của chính sách tài khóa.
Cầu vốn tăng, huy động vẫn giảm
Thời gian qua, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng, khiến quy mô huy động vốn bằng VND thấp hơn dư nợ tín dụng khoảng 2 triệu tỷ đồng. Điều này cho thấy tăng trưởng tín dụng đang vượt khả năng huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD), đồng thời khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lập nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Theo ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN), trong 5 năm qua cũng như ở thời điểm hiện tại, ngành ngân hàng luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là tốc độ tăng trưởng huy động vốn thấp hơn tăng trưởng tín dụng. Bình quân 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn huy động vốn khoảng 3,8%.
Chỉ số LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động) toàn hệ thống hiện ở mức 111-112%, nghĩa là cứ cho vay 112 đồng thì chỉ huy động được 100 đồng, còn 12 đồng phải bổ sung từ các nguồn khác. Vì vậy, quản trị thanh khoản là yêu cầu đặc biệt quan trọng. Dù toàn hệ thống vẫn đảm bảo 100% khả năng chi trả, giữ cho dòng vốn của nền kinh tế thông suốt, nhưng trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, việc đảm bảo an toàn thanh khoản đang gặp nhiều thách thức. Đây cũng là nguyên nhân khiến lãi suất tiết kiệm tăng mạnh từ tháng 11/2025 đến nay.
NHNN cho biết, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng huy động vốn vẫn chậm hơn. Tính đến ngày 15/6, tăng trưởng tín dụng vẫn cao hơn huy động vốn khoảng 2%.
Trong bối cảnh đó, Chính phủ và các bộ, ngành đã triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Xuất phát từ thực trạng giải ngân đầu tư công chậm, số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước tăng nhanh, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 168/NQ-CP, giao Bộ Tài chính chủ động quyết định hạn mức cụ thể sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại (có thể vượt quá 50% khả năng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi) nhằm tăng cường phối hợp giữa chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ.
Trước đó, NHNN cũng ban hành Thông tư 25/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng thương mại được tính 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR). Sau khi Nghị quyết 168 được ban hành, NHNN cho biết, sẽ tiếp tục nghiên cứu các giải pháp nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống hiệu quả hơn.
Song song với đó, NHNN đã mở nhiều "cửa sổ" hỗ trợ thanh khoản, đặc biệt thông qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (SWAP), nhằm cung ứng kịp thời nguồn vốn cho các TCTD. Dù vậy, các ngân hàng vẫn lo ngại áp lực thanh khoản trong nửa cuối năm, nhất là khi nhu cầu tín dụng thường tăng mạnh vào mùa cao điểm.