Chiến tranh tiền tệ ngược bắt đầu trên toàn cầu vì lạm phát

(ĐTCK) Các cuộc chiến tranh tiền tệ bùng phát theo thời gian và thường xuất hiện trong những thời điểm kinh tế hỗn loạn.
Chiến tranh tiền tệ ngược bắt đầu trên toàn cầu vì lạm phát

Điều ít phổ biến hơn là chiến tranh tiền tệ ngược và dường như điều này đang xảy ra, cho dù là kết quả của các chính sách có chủ ý hay do tác dụng phụ của các bước mà các ngân hàng trung ương đang thực hiện để chống lại lạm phát.

Chiến tranh tiền tệ ngược (reverse currency war) là một tình huống mà các quốc gia nỗ lực để làm cho đồng tiền của họ mạnh hơn. Thay vì thúc đẩy tăng trưởng, mục tiêu của bất kỳ động thái nào như vậy là giúp kiềm chế lạm phát, vì đồng tiền mạnh hơn có nghĩa là hàng nhập khẩu tương đối rẻ hơn.

Đồng đô la Mỹ tăng giá mạnh

Chiến tranh tiền tệ ngược bắt đầu trên toàn cầu vì lạm phát ảnh 1

Tiền tệ của các quốc gia G10 giảm giá so với đồng USD trong năm nay

Việc đô la Mỹ tăng giá mạnh khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) theo đuổi các đợt tăng lãi suất mạnh mẽ nhất trong gần 30 năm đang đặt ra thách thức đối với tiền tệ và các ngân hàng trung ương trên thế giới.

Đồng đô la Mỹ đã tăng vọt 7% trong năm nay khi Fed thực hiện các đợt tăng lãi suất mạnh mẽ để chống lại lạm phát. Và do đó, từng ngân hàng trung ương ở các quốc gia khác cũng như đang tuyệt vọng để chế ngự cuộc tuần hành không ngừng của lạm phát, bắt đầu phát đi những tín hiệu rằng họ sẽ một lần chào đón một đồng tiền mạnh hơn và điều này giúp giảm chi phí nhập khẩu bằng cách thúc đẩy sức mua ở nước ngoài.

Một dấu hiệu cho thấy mọi thứ đã thay đổi gần đây là một số ngân hàng trung ương trước đây được biết đến với việc sử dụng biện pháp can thiệp ngoại hối trực tiếp để làm suy yếu đồng tiền của họ thì nay lại làm ngược lại.

Vào ngày 16/6, Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ trong lịch sử từng hành động trên thị trường tiền tệ để làm suy yếu đồng franc, nhưng mới đây đã cho phép đồng tiền của mình mạnh lên và gây bất ngờ với lần tăng lãi suất đầu tiên kể từ năm 2007, đưa đồng franc tăng vọt lên mức cao nhất trong 7 năm. Vài giờ sau, Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng thông báo tăng lãi suất và báo hiệu các đợt tăng lãi suất lớn hơn sắp tới.

Giá trị của tiền tệ đã nổi lên như một phần ngày càng lớn của phương trình lạm phát. Nhà kinh tế học Michael Cahill của Goldman Sachs cho biết rằng, ông không thể nhớ lại thời điểm mà các ngân hàng trung ương của các quốc gia phát triển đã từng nhắm mục tiêu vào các đồng tiền mạnh hơn một cách quyết liệt như vậy.

Thế giới ngoại hối gọi đó là “cuộc chiến tiền tệ ngược”, vì trong hơn một thập kỷ, các quốc gia đã tìm kiếm điều ngược lại. Đồng tiền yếu hơn có nghĩa là các công ty trong nước có thể bán hàng hóa ra nước ngoài với giá cạnh tranh hơn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Nhưng với chi phí của mọi thứ từ nhiên liệu, thực phẩm đến các thiết bị gia dụng tăng cao, việc tăng cường sức mua đột nhiên trở nên quan trọng hơn.

Rủi ro của chiến tranh tiền tệ ngược

Nhưng đó là một ván cờ nguy hiểm. Nếu không được kiểm soát, sự cạnh tranh quốc tế này có nguy cơ gây ra sự biến động lớn về giá trị của các loại tiền tệ chi phối nhất, các nhà sản xuất phụ thuộc vào xuất khẩu, chi tiêu tài chính của các công ty đa quốc gia và chuyển gánh nặng lạm phát lên toàn thế giới.

Cuộc chiến ngoại hối nổi tiếng là một trò chơi có tổng bằng không (zero-sum game) vì sẽ có kẻ thắng người thua. Alan Ruskin, Trưởng bộ phận Chiến lược quốc tế tại Deutsche Bank AG cho biết: “Mọi quốc gia đều muốn điều giống nhau, nhưng chúng ta không thể có điều đó trong thế giới tiền tệ”.

Một trong những can thiệp quy mô lớn đáng chú ý nhất của chính phủ vào thị trường tiền tệ là vào năm 1985. Giá trị của đồng đô la Mỹ đã tăng vọt trong nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Ronald Reagan do lãi suất dài hạn tăng, đạt mức cao nhất từ ​​trước đến nay so với đồng bảng Anh.

Ban đầu, chính quyền Tổng thống Reagan xem đây là sự tôn vinh sức mạnh của nền kinh tế Mỹ, nhưng những hạn chế đã sớm trở nên rõ ràng. Tổng thống Reagan đã phải chịu áp lực từ các nhà sản xuất Mỹ vì họ ngày càng thấy khó tiếp thị hàng hóa của họ ra nước ngoài. Lee Morgan, cựu Giám đốc điều hành của Tập đoàn Caterpillar ước tính rằng, hàng trăm công ty Mỹ đã mất hàng tỷ USD đơn đặt hàng quốc tế hàng năm cho các đối thủ cạnh tranh Nhật Bản do đồng USD mạnh hơn.

Vào tháng 9/1985, Chủ tịch Fed vào thời điểm đó đã gặp gỡ các đối tác Pháp, Đức, Nhật Bản và Anh tại Khách sạn Plaza ở thành phố New York. Trong Hiệp định Plaza, họ đã đưa ra một kế hoạch sẽ khiến đồng đô la Mỹ giảm 40% trong hai năm tiếp theo cho đến khi các bộ trưởng tài chính ký Hiệp định Louvre ở Paris để chấm dứt nỗ lực này.

Kể từ đó, các chính phủ hiếm khi can thiệp một cách rõ ràng để ảnh hưởng đến giá trị của tiền tệ, mà thay vào đó là những nỗ lực nhỏ hơn, phổ biến hơn. Vào năm 2010, Bộ trưởng Tài chính Brazil Guido Mantega đã gọi tên "chiến tranh tiền tệ" khi ông cáo buộc các quốc gia bao gồm Thụy Sĩ và Nhật Bản cố tình làm suy yếu đồng tiền của họ để tăng khả năng cạnh tranh ở nước ngoài. Căng thẳng làm sâu sắc thêm rạn nứt giữa các nền kinh tế thị trường mới nổi và các nền kinh tế phát triển hơn của họ.

Vào giai đoạn chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, khi Mỹ và Trung Quốc trả đũa nhau bằng thuế quan qua lại trong nhiệm kỳ Tổng thống Donald Trump, Trung Quốc đã cho phép đồng nhân dân tệ suy yếu xuống dưới mức tượng trưng là 7 so với đồng đô la - một ranh giới mà nó đã không vượt qua trong hơn một thập kỷ - và điều này làm dấy lên cảnh báo rằng tiền tệ có thể được “vũ khí hóa” và khiến Bộ Tài chính Mỹ coi Trung Quốc là kẻ thao túng tiền tệ.

Trong chiến tranh tiền tệ ngày nay, đồng đô la Mỹ mạnh được cho là có nhiều thứ nhất để mất. Mức tăng của đồng đô la Mỹ vào năm 2022 đã giúp Fed trong bối cảnh đang cố gắng chống lại mức tăng giá nhanh nhất trong bốn thập kỷ. Nhưng Mỹ có thể không được hưởng lợi thế này lâu. Việc tăng lãi suất của Thụy Sĩ và Anh đã đè nặng lên đồng đô la, mà trước đó vào tháng 6 đã ghi nhận mức giảm hai ngày lớn nhất kể từ tháng 3/2020.

Giáo sư kinh tế học Jeffrey Frankel của Đại học Harvard cho biết, các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia thiên về xuất khẩu như Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ là những nước dễ bị tổn thương nhất.

“Đó là điều tồi tệ nhất trên tất cả các nền kinh tế mới nổi vì để đồng tiền giảm giá so với đô la trong khi đang mắc nợ đô la”, ông cho biết.

Tuy nhiên, việc một đồng tiền mạnh hơn sẽ làm giảm lạm phát đến mức nào là điều vẫn chưa rõ ràng. Nhà kinh tế trưởng toàn cầu Nathan Sheets của Citigroup cho biết: “Nhưng trong thời đại lạm phát tràn lan, nó có thể làm được nhiều điều tốt hơn. Đồng đô la tăng 10% trước đây sẽ chỉ làm giảm lạm phát khoảng 0,5% nhưng ngày nay, nó có thể là 1%”.

Các chuyên gia cảnh báo rằng bất kỳ sự can thiệp nào của chính phủ đều có nguy cơ thất bại cao. Mark Sobel, cựu quan chức hàng đầu của Bộ Tài chính Mỹ cho biết: “Nhắm mục tiêu tỷ giá hối đoái có thể là một bài tập rất hay thay đổi và không hiệu quả. Dự đoán cách các thị trường hối đoái có thể phản ứng với một lựa chọn chính sách nhất định thường có thể là một việc vô ích”.

Ai chiến thắng và thua cuộc trong chiến tranh tiền tệ ngược?

Người tiêu dùng từ các quốc gia tăng giá thành công đồng tiền của họ là những người chiến thắng rõ ràng trong cuộc chiến tranh tiền tệ ngược, với giá trong nước giảm nhẹ do sức mua lớn hơn.

Nhưng lại có rất nhiều bên thua cuộc, bao gồm các tập đoàn đa quốc gia, các quốc gia phụ thuộc vào xuất khẩu và các nền kinh tế mới nổi. Các công ty Mỹ từ Salesforce Inc. đến Costco Wholesale Corp. đã đưa ra lời phàn nàn về việc đồng đô la tăng mạnh trong báo cáo kết quả kinh doanh gần đây.

Đó là bởi vì đồng bạc xanh mạnh hơn làm giảm giá trị doanh thu nước ngoài của các công ty đó khi được quy đổi sang đô la. Điều đó cũng làm cho sản phẩm của họ kém cạnh tranh hơn khi giá cả tính theo nội tệ tăng lên, làm giảm nhu cầu.

Đối với các nền kinh tế đang phát triển, rủi ro “tiền tệ không khớp” xảy ra khi các chính phủ, tập đoàn hoặc tổ chức tài chính nợ bằng đô la Mỹ nhưng trả bằng đồng nội tệ mất giá, có thể đẩy họ vào tình trạng nguy hiểm về tài chính.

Vũ Duy Bắc
Theo báo chí nước ngoài

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục