Châu Á đang đứng trước ngưỡng cửa của một siêu chu kỳ đầu tư năng lượng

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Theo Morgan Stanley, trí tuệ nhân tạo (AI) không chỉ thúc đẩy cuộc đua xây dựng trung tâm dữ liệu mà còn có thể trở thành chất xúc tác cho một siêu chu kỳ đầu tư năng lượng, làm thay đổi đáng kể cán cân cung cầu năng lượng tại châu Á trong những năm tới.
Châu Á đang đứng trước ngưỡng cửa của một siêu chu kỳ đầu tư năng lượng

Cụ thể, châu Á đang đứng trước ngưỡng cửa của một siêu chu kỳ đầu tư năng lượng trị giá khoảng 5.500 tỷ USD trong 5 năm tới, khi các doanh nghiệp và chính phủ đồng loạt tăng chi tiêu nhằm củng cố an ninh năng lượng và đáp ứng nhu cầu điện ngày càng tăng do sự phát triển của AI.

Morgan Stanley ước tính làn sóng đầu tư trên có thể giúp giảm tỷ trọng năng lượng nhập khẩu của châu Á từ 36% tổng mức tiêu thụ hiện nay xuống còn 29% vào năm 2030.

Nhìn rộng hơn, sự gia tăng chi tiêu có thể mở ra tới 9.000 tỷ USD cơ hội đầu tư trên toàn chuỗi giá trị năng lượng, bao gồm sản xuất điện, lưới điện, lưu trữ năng lượng, lọc nhiên liệu, phân bón, đóng tàu và thiết bị công nghiệp.

Mayank Maheshwari, nhà phân tích năng lượng và tiện ích khu vực Ấn Độ và Đông Nam Á tại Morgan Stanley cho biết: “An ninh năng lượng kết hợp cùng trí tuệ nhân tạo và sự gia tăng tiêu thụ năng lượng khi việc chuyển sản xuất về nước tăng lên, cả ba yếu tố này đang kết hợp lại để tạo nên chu kỳ siêu tăng trưởng đầu tư”.

Than và khí đốt tự nhiên có khả năng hồi phục

Trong khi chi tiêu cho năng lượng tái tạo đã tăng hơn gấp đôi trong thập kỷ qua, Morgan Stanley dự đoán sẽ có sự chững lại trong thời gian tới. Nguyên nhân là hệ thống lưới điện sẽ cần khoảng 1.000 tỷ USD vốn đầu tư mới để nâng cấp hạ tầng trước khi có thể tiếp nhận thêm công suất từ các nguồn năng lượng tái tạo.

Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Đông Nam Á đã đầu tư 17 tỷ USD vào năng lượng tái tạo năm ngoái – mức cao nhất kể từ năm 2015.

Trong khi đó, Morgan Stanley dự đoán sản xuất điện từ than và khí đốt sẽ vẫn rất quan trọng ở châu Á trong phần còn lại của thập kỷ này, để giảm bớt tình trạng gián đoạn và cải thiện độ tin cậy của hệ thống năng lượng.

“Việc mở rộng công suất năng lượng tái tạo trong nước…được xem là rất quan trọng để củng cố hơn nữa hệ thống điện của châu Á trước những cú sốc về nhiên liệu, nhưng điều đó vẫn chưa đủ”, báo cáo cho biết.

Điều này là do tính không ổn định và độ tin cậy của năng lượng tái tạo vẫn là rủi ro chính đối với an ninh năng lượng.

Trong bối cảnh này, báo cáo cho biết than đá và khí đốt tự nhiên có khả năng “quay trở lại trong câu chuyện an ninh năng lượng của châu Á”. Morgan Stanley dự đoán chi tiêu hàng năm cho nhiên liệu hóa thạch và các nguồn năng lượng đáng tin cậy sẽ tăng gấp đôi so với những năm gần đây.

“Lĩnh vực năng lượng tái tạo đang phản ánh một sự chuyển dịch rõ ràng hướng tới độ tin cậy và khả năng phục hồi hệ thống: khi nhu cầu về điện năng đáng tin cậy tăng lên, năng lượng tái tạo ngày càng được tích hợp với than đá và khí đốt để đảm bảo nguồn cung ổn định và có thể mở rộng”, ông Mayank Maheshwari nhận định.

Morgan Stanley ước tính đến năm 2030, châu Á sẽ cần bổ sung khoảng 500 triệu tấn than và 100 triệu tấn khí đốt tự nhiên mỗi năm. Nhu cầu này sẽ được thúc đẩy bởi các lĩnh vực như vận tải, AI, cũng như nhu cầu sử dụng điện và nhiên liệu nấu nướng của các hộ gia đình.

Morgan Stanley cũng dự báo nhu cầu năng lượng của châu Á sẽ tăng thêm 38 exajoule vào năm 2030, tương đương tổng lượng năng lượng mà toàn bộ khu vực Trung Đông hiện tiêu thụ.

Báo cáo lưu ý rằng khoảng 2/3 nhu cầu này sẽ được đáp ứng bằng các nguồn trong nước như năng lượng tái tạo, than đá và khí đốt tự nhiên trong nước, trong khi phần còn lại sẽ cần phải nhập khẩu.

Tuy nhiên, vì năng lượng mặt trời không ổn định, hệ thống pin lưu trữ là cần thiết để ổn định những biến động của lưới điện.

Với sự hỗ trợ tài chính từ chính phủ và các tập đoàn công nghệ lớn cho các nhà sản xuất điện và lưu trữ năng lượng, Morgan Stanley ước tính 75% tổng vốn đầu tư sẽ được các công ty năng lượng tự tài trợ thông qua dòng tiền từ hoạt động kinh doanh kết hợp với vay nợ, khoảng 25% nhu cầu vốn còn lại sẽ được đáp ứng thông qua nguồn hỗ trợ từ các chính phủ và các quỹ đầu tư quốc gia toàn cầu.

Hạc Hiên
Theo báo chí nước ngoài

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục