PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC tại TP.HCM
Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, PGS-TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC tại TP.HCM cho rằng, VIFC có thể trở thành kênh dẫn vốn mới cho nền kinh tế, với khả năng thu hút 10-30 tỷ USD vốn quốc tế mỗi năm.
Dư nợ tín dụng ngân hàng đã tương đương 145% GDP, cho thấy nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn ngắn hạn ngân hàng. Việc thành lập VIFC sẽ giúp đa dạng hóa các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế như thế nào?
Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của Việt Nam giai đoạn 2026-2030 ước tính tối thiểu khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 40% GDP. Trong khi đó, theo Bộ Tài chính, ngân sách nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 20%, tương đương hơn 7,7 triệu tỷ đồng. Như vậy, trên 30 triệu tỷ đồng còn lại phải được huy động từ khu vực ngoài ngân sách - bình quân khoảng 6,16 triệu tỷ đồng mỗi năm từ doanh nghiệp, thị trường vốn, hệ thống tài chính và các nguồn quốc tế. Có thể nói, áp lực huy động vốn giai đoạn này lớn hơn rất nhiều so với giai đoạn trước.
Thị trường trái phiếu, chứng khoán đã có sự phát triển đáng kể. Hiện quy mô thị trường chứng khoán tương đương 82,3% GDP. Tuy nhiên, quy mô vốn hóa không đồng nghĩa với khả năng cung ứng vốn mới cho nền kinh tế, bởi năng lực IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng), phát hành thêm cổ phiếu, phát hành trái phiếu doanh nghiệp, hình thành quỹ đầu tư dài hạn và kết nối thị trường tài chính Việt Nam với nhà đầu tư tổ chức quốc tế vẫn còn khoảng cách lớn so với nhu cầu của nền kinh tế.
Vì vậy, nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng, với dư nợ cho vay đã tương đương 145% GDP, đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có dư nợ tín dụng ngân hàng/GDP cao nhất thế giới. Nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng dễ dẫn đến rủi ro, an toàn hệ thống tài chính quốc gia và cả nền kinh tế khi gặp cú sốc từ bên ngoài, vì nhà băng buộc phải sử dụng quá nhiều nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10% trở lên, tăng trưởng bền vững chứ không tăng trưởng bằng mọi giá, đòi hỏi phải tái cơ cấu kênh cung ứng vốn cho nền kinh tế. Vì vậy, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 222/2025/QH15; Chính phủ ban hành Nghị định 323/2025/NĐ-CP về thành lập VIFC tại TP.HCM và Đà Nẵng. VIFC tại TP.HCM (VIFC-HCMC) chuẩn bị đi vào hoạt động sau khi Quy chế hoạt động của VIFC được ban hành.
![]() |
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể, với quy mô tương đương 82,3% GDP. Ảnh: Đức Thanh |
Trong nhu cầu 38,5 triệu tỷ đồng vốn đầu tư cho nền kinh tế, vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò như thế nào, nhất là khi Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu thu hút 40-50 tỷ USD mỗi năm?
Nghị quyết 10-NQ/TW phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Mục tiêu đặt ra là giai đoạn 2026-2030, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký đạt khoảng 200 - 300 tỷ USD (40 - 50 tỷ USD/năm); vốn thực hiện 150 - 200 tỷ USD (30 - 40 tỷ USD/năm).
Trong 7 tháng đầu năm nay, Việt Nam thu hút trên 38 tỷ USD vốn đăng ký cả vốn cấp mới, vốn điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước; vốn thực hiện đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm 2025. Như vậy, nếu tốc độ thu hút vốn nước ngoài những tháng còn lại của năm 2026 giữ được như 7 tháng đầu năm, thì năm nay có thể hoàn thành mục tiêu thu hút vốn nước ngoài theo Nghị quyết 10-NQ/TW.
Báo cáo Đầu tư thế giới 2026 của UNCTAD (Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển) cho thấy, FDI toàn cầu đã phục hồi trở lại kể từ năm 2025, nhưng sự phục hồi tập trung vào một số ít quốc gia và dự án lớn. Dòng vốn FDI thế hệ mới lựa chọn địa điểm dựa trên mức độ tin cậy của thể chế, khả năng chuyển đổi ngoại tệ, chất lượng hạ tầng, năng lực quản trị dữ liệu, nguồn nhân lực, cơ chế giải quyết tranh chấp, công cụ phòng ngừa rủi ro và khả năng triển khai dự án đúng tiến độ.
Theo Báo cáo của UNCTAD, 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới thu hút hơn 80% tổng FDI, song Việt Nam không nằm trong danh sách này. Vậy ông có nghĩ Việt Nam sẽ hoàn thành mục tiêu thu hút FDI tại Nghị quyết 10-NQ/TW?
VIFC chính là công cụ để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, vì sẽ trở thành kênh giúp nhà đầu tư nước ngoài từ tìm kiếm cơ hội, cấu trúc giao dịch và cấp phép đến phát hành, thanh toán, lưu ký và thoái vốn.
Tôi cho rằng, mục tiêu thu hút mỗi năm 30-40 tỷ USD vốn nước ngoài có thể thực hiện được, vì Báo cáo của UNCTAD cho biết, xu hướng nguồn vốn FDI đang tập trung vào các lĩnh vực chiến lược như hạ tầng trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, khoáng sản quan trọng và công nghệ chuyển dịch năng lượng... - đều là những lĩnh vực trọng điểm mà chúng ta đang tập trung phát triển.
VIFC không thay thế hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán, vốn đầu tư nước ngoài, mà giữ vai trò tạo ra các kênh huy động vốn hiện tại chưa được cung cấp đầy đủ như ngoại tệ và đa tiền tệ; vốn có kỳ hạn dài; quỹ hưu trí, bảo hiểm và tài sản quốc gia; tín dụng tư nhân; tài chính dự án; trái phiếu quốc tế...
VIFC sẽ phải cạnh tranh với các trung tâm tài chính quốc tế khác trên thế giới, thưa ông?
Hiện có trên 120 trung tâm tài chính đang cạnh tranh khốc liệt để trở thành trung tâm tài chính hàng đầu thế giới và khu vực. Chúng tôi đã nghiên cứu nhiều trung tâm tài chính quốc tế, trong đó tập trung vào những trung tâm hàng đầu khu vực, đặc biệt là Trung tâm Tài chính Singapore, Hongkong (Trung Quốc) - 2 trung tâm tài chính thuộc hàng lớn nhất thế giới. Lợi thế của 2 trung tâm này là nằm ở vị trí địa lý khá đắc địa, nên trở thành trung tâm trung chuyển hàng hải, hàng không quốc tế. Nhưng họ có bất lợi là có diện tích nhỏ, dân số ít, nền kinh tế chỉ tập trung vào dịch vụ, thay vì sản xuất.
Trong khi đó, Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế tự nhiên sẵn có để phát triển trung tâm tài chính khu vực và quốc tế: nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây. TP.HCM chỉ cách khoảng 3 giờ bay tới các nền kinh tế năng động châu Á như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), nên được ví như tâm điểm của Đông Nam Á.
Đặc biệt, VIFC ở cả TP.HCM và Đà Nẵng có múi giờ khác biệt so với 21 trung tâm tài chính lớn nhất toàn cầu. Đây có thể nói là lợi thế “riêng có và đặc biệt” trong việc thu hút dòng vốn nhàn rỗi trong thời gian các trung tâm tài chính trên thế giới nghỉ giao dịch.
Bên cạnh lợi thế về vị trí địa lý, Việt Nam có những lợi thế nào khác để tạo khác biệt cho VIFC trên thị trường tài chính quốc tế?
Việt Nam đang là điểm sáng về phát triển và tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, thu hút đầu tư, đang dần hội tụ các yếu tố cần thiết để phát triển thị trường tài chính hiện đại. Việt Nam cũng nằm trong số những thị trường dẫn đầu về tỷ lệ áp dụng các công nghệ tài chính hiện đại, có thể tạo được lợi thế cạnh tranh, hình thành các sản phẩm đặc thù, riêng có.
VIFC không cạnh tranh trực tiếp với các trung tâm tài chính quốc tế lớn, mà trở thành một trung tâm tài chính mới, khác biệt với những trung tâm tài chính hiện có để tiếp nhận nguồn lực tài chính chuyển dịch từ các trung tâm tài chính quốc tế lớn, cung cấp dịch vụ tài chính mới, tiếp cận các thị trường mới, xu thế phát triển mới.
Là trung tâm tài chính “sinh sau đẻ muộn”, VIFC có lợi thế là tận dụng được công nghệ hiện đại, có nhiều bài học kinh nghiệm từ các trung tâm tài chính quốc tế thành lập trước. Sự thành công của VIFC sẽ giúp Việt Nam kết nối với thị trường tài chính toàn cầu; thu hút các tổ chức tài chính nước ngoài, tạo ra nguồn lực đầu tư mới, thúc đẩy nguồn lực đầu tư hiện hữu; tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế; thúc đẩy thị trường tài chính nội địa hoạt động hiệu quả, bắt kịp chuẩn mực quốc tế...
Theo tính toán của ông, khi VIFC đi vào hoạt động, sẽ thu hút bao nhiêu vốn cho nền kinh tế?
Tác động của VIFC đến tăng trưởng không nên được hiểu là toàn bộ vốn huy động sẽ tự động chuyển thành GDP. Một phần vốn có thể là tái cơ cấu danh mục, tái cấp vốn hoặc đầu tư vào tài sản thứ cấp. Chúng tôi đã xây dựng 3 kịch bản đóng góp của VIFC với tăng trưởng GDP gồm kịch bản thận trọng, cơ sở và tăng tốc. Theo đó, mỗi năm, VIFC huy động được 10 tỷ USD, 20 tỷ USD và 30 tỷ USD; tỷ lệ giải ngân cho 3 kịch bản là 50%; 60% và 70%, thì mỗi năm thu hút vốn thực (vốn giải ngân) tương ứng 130.000 tỷ đồng; 312.000 tỷ đồng và 546.000 tỷ đồng, sẽ giúp GDP tăng thêm 28.900 tỷ đồng; 69.300 tỷ đồng và 121.300 tỷ đồng.
Ngoài tác động lượng hóa trực tiếp, VIFC còn tạo 3 hiệu ứng chất lượng: kéo dài kỳ hạn vốn và giảm rủi ro kỳ hạn của hệ thống ngân hàng; giảm chi phí vốn thông qua cạnh tranh, xếp hạng tín nhiệm, minh bạch và khả năng phòng ngừa rủi ro; tạo áp lực nâng chuẩn quản trị doanh nghiệp, báo cáo tài chính, ESG và công bố thông tin. Các hiệu ứng này có thể làm tăng năng suất tổng hợp và khả năng chống chịu của nền kinh tế, qua đó quan trọng không kém quy mô vốn tuyệt đối.
Việc đưa VIFC vào hoạt động góp phần phát triển bền vững đất nước, nâng cao vai trò, vị thế, uy tín và ảnh hưởng của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế, từ đó bảo đảm an ninh tài chính từ sớm, từ xa. Việc xây dựng, vận hành và phát triển VIFC có tính cạnh tranh tại Việt Nam sẽ góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số.
