Áp lực tiến độ tại dự án cao tốc Vành đai 4 - Vùng Thủ đô

0:00 / 0:00
0:00
Dự án thành phần 3 - tuyến cao tốc thuộc Vành đai 4 - Vùng Thủ đô mới đạt 12,38% giá trị hợp đồng, trong khi mục tiêu thông xe kỹ thuật vào tháng 7/2027 và hoàn thành toàn bộ Dự án trong năm 2027.
Vinaconex thi công đường song hành Vành đai 4, đoạn qua Đan Phượng. Vinaconex thi công đường song hành Vành đai 4, đoạn qua Đan Phượng.

Ủy ban Kinh tế và tài chính vừa có báo cáo gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội thẩm tra tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 56/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội.

Tiến độ không đều

Theo Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính, đến nay, cả 4/4 dự án thành phần có cấu phần xây dựng đã được khởi công, song tiến độ triển khai giữa các dự án thành phần không đồng đều.

Cụ thể, Dự án thành phần 2.1 trên địa bàn TP. Hà Nội đạt giá trị sản lượng khoảng 87%; Dự án thành phần 2.2 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đạt khoảng 82,7%; Dự án thành phần 2.3 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đạt khoảng 48,74%. Riêng Dự án thành phần 3 đầu tư tuyến cao tốc theo phương thức PPP mới đạt khoảng 6.968,4/56.294 tỷ đồng, tương đương 12,38% giá trị hợp đồng.

Trong khi các dự án thành phần đường song hành 2.1 và 2.2 đều đạt tiến độ trên 82%, các địa phương đang phấn đấu hoàn thành trong năm 2026 theo yêu cầu tại Nghị quyết số 56/2022/QH15, thì Dự án thành phần 2.3 và đặc biệt là Dự án thành phần 3 có tiến độ chậm hơn đáng kể.

Đáng chú ý, đối với Dự án thành phần 3, khối lượng thực hiện mới đạt 12,38%, trong khi phần việc còn lại có giá trị khoảng 49.325 tỷ đồng, tương đương 87,62% giá trị hợp đồng và thời gian để phấn đấu thông xe kỹ thuật vào tháng 7/2027, hoàn thành toàn bộ trong năm 2027 chỉ còn khoảng 17 tháng.

Báo cáo của Chính phủ đã chỉ ra một số nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến tiến độ như quy mô Dự án lớn, kỹ thuật phức tạp với 80,89 km cầu cạn, 3 cầu lớn vượt sông, 8 nút giao liên thông; thời gian chuẩn bị, đàm phán hợp đồng và lựa chọn nhà đầu tư kéo dài; tình trạng thiếu vật liệu xây dựng, trong khi cơ chế đặc thù về vật liệu đã hết hiệu lực.

Tuy nhiên, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ làm rõ các nguyên nhân chủ quan và trách nhiệm của từng cơ quan, chủ thể liên quan; đánh giá thực chất tính khả thi của tiến độ; xác định các hạng mục trọng yếu, sản lượng cần đạt theo từng giai đoạn và giải pháp bù tiến độ gắn với trách nhiệm, thời hạn cụ thể.

Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị làm rõ khả năng hoàn thành đồng bộ toàn Dự án, bảo đảm tuyến chính cao tốc, cầu, nút giao, đường song hành và các hạng mục kết nối đủ điều kiện khai thác theo cùng một mốc tiến độ; tránh tình trạng các dự án thành phần đã hoàn thành nhưng tuyến cao tốc chính chưa thể khai thác, làm giảm hiệu quả đầu tư; không để đến sát thời hạn mới phát sinh đề xuất điều chỉnh tiến độ.

Có ý kiến đề nghị đánh giá cụ thể tác động của việc chậm hoàn thành Dự án thành phần 3 đối với khả năng lưu thông đồng bộ toàn tuyến cũng như khả năng kết nối của các dự án thành phần khác.

Năng lực huy động vốn của nhà đầu tư cũng là vấn đề được đặt ra. Theo Nghị quyết số 56/2022/QH15, vốn nhà đầu tư chiếm 52,1% sơ bộ tổng mức đầu tư Dự án thành phần 3. Vì vậy, có ý kiến đề nghị Chính phủ làm rõ tình hình góp vốn chủ sở hữu, tín dụng, điều kiện và tiến độ huy động vốn của nhà đầu tư.

Bên cạnh đó, Chính phủ được đề nghị làm rõ 6 gói thầu chưa hoàn thành thiết kế, dự toán, gồm 3 gói sử dụng vốn ngân sách nhà nước và 3 gói thuộc phần vốn nhà đầu tư; trong đó xác định cụ thể phạm vi, giá trị, tình trạng thủ tục, thời điểm ký hợp đồng, khởi công và tác động đến tiến độ chung, làm cơ sở đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp dự án và tính khả thi của mục tiêu hoàn thành năm 2027.

Một vấn đề khác được cơ quan thẩm tra đặt ra là cần xác định rõ các mốc hoàn thành Dự án, từ hoàn thành kết cấu chính, thông xe kỹ thuật đến nghiệm thu, đưa vào khai thác, hoàn thành các hạng mục phụ trợ, quyết toán, kiểm toán và thực hiện nghĩa vụ về môi trường.

Đặc biệt, có ý kiến đề nghị Chính phủ làm rõ việc chuyển mốc cơ bản hoàn thành từ năm 2026 sang năm 2027 có thuộc trường hợp phải điều chỉnh chủ trương đầu tư hay không, đồng thời xác định trách nhiệm và giải pháp bảo đảm tuân thủ Nghị quyết của Quốc hội.

Đẩy nhanh tiến độ lựa chọn thầu

Theo Nghị quyết số 56/2022/QH15, sơ bộ tổng mức đầu tư Dự án là 85.813 tỷ đồng, trong đó vốn nhà đầu tư huy động 29.447 tỷ đồng, vốn nhà nước khoảng 56.366 tỷ đồng. Vốn nhà nước gồm 41.860 tỷ đồng bố trí trong giai đoạn 2021 - 2025 và 14.506 tỷ đồng trong giai đoạn 2026 - 2030.

Theo báo cáo của Chính phủ, tổng số vốn đã bố trí cho Dự án đến nay đạt khoảng 37.494,96 tỷ đồng, tương đương 66,52% tổng vốn nhà nước. Lũy kế giải ngân trên số vốn đã bố trí đạt khoảng 79,4%; riêng năm 2026, tỷ lệ giải ngân đạt 74,5%.

Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đánh giá tỷ lệ giải ngân lũy kế 79,4% là kết quả tương đối tích cực, thể hiện nỗ lực trong công tác điều hành. Tuy nhiên, nếu so với tổng vốn nhà nước 56.366 tỷ đồng theo Nghị quyết số 56/2022/QH15, lũy kế giải ngân mới đạt khoảng 52,79%; còn khoảng 7.739,69 tỷ đồng vốn đã bố trí nhưng chưa giải ngân.

Cùng với việc khối lượng thi công Dự án thành phần 3 mới đạt 12,38%, cơ quan thẩm tra cho rằng thực tế này cho thấy áp lực bố trí và giải ngân vốn trong các năm 2026 - 2027 là rất lớn.

Theo đó, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ đánh giá kỹ khả năng cân đối, bố trí khoảng 18.871 tỷ đồng vốn nhà nước còn lại và 29.447 tỷ đồng vốn do nhà đầu tư huy động, nhằm bảo đảm nguồn lực hoàn thành Dự án theo tiến độ.

Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị làm rõ nguyên nhân tỷ lệ giải ngân năm 2026 tại một số dự án thành phần còn thấp. Đến thời điểm báo cáo, Dự án thành phần 1.1 đạt 51,13%; Dự án thành phần 2.1 đạt 72,88%; Dự án thành phần 1.2 đạt 60,82%; Dự án thành phần 1.3 đạt 32,83%; đặc biệt, Dự án thành phần 2.2 mới đạt 0,57%.

Đồng thời, Chính phủ được đề nghị chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan tăng cường quản lý, sử dụng vốn, bảo đảm hiệu quả, minh bạch, tránh thất thoát, lãng phí.

Đối với Dự án thành phần 3, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị Chính phủ chỉ đạo UBND TP. Hà Nội - cơ quan có thẩm quyền, nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án tập trung nguồn lực, đẩy nhanh lựa chọn nhà thầu đối với các gói thầu còn lại; tổ chức thi công bù tiến độ, bố trí đủ máy móc, thiết bị và nhân lực.

Các đơn vị cũng được yêu cầu phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương để kịp thời tháo gỡ khó khăn về vật liệu xây dựng, mỏ đất, mỏ cát; báo cáo cụ thể, minh bạch tiến độ, khối lượng thi công hằng tháng để có giải pháp điều chỉnh phù hợp, quyết tâm thông xe kỹ thuật vào tháng 7/2027 và hoàn thành toàn bộ Dự án trong năm 2027.

Bên cạnh đó, cơ quan thẩm tra đề nghị sớm nghiên cứu phương án tổ chức thu phí các đoạn tuyến cao tốc đầu tư theo phương thức PPP theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đường bộ, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả trong khai thác, vận hành và bảo trì công trình sau khi đưa vào sử dụng.

Trước đó, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 56/2022/QH15 ngày 16/6/2022 về chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Dự án dài khoảng 112,8 km, đi qua TP. Hà Nội, Hưng Yên và Bắc Ninh, sơ bộ tổng mức đầu tư 85.813 tỷ đồng, thực hiện từ năm 2022, cơ bản hoàn thành năm 2026 và đưa vào khai thác từ năm 2027.

Toàn Dự án gồm 7 dự án thành phần, trong đó Dự án thành phần 3 đầu tư tuyến cao tốc theo phương thức PPP là cấu phần có quy mô lớn nhất.

Đối với Dự án thành phần 3, theo Chính phủ, nhà đầu tư đã phê duyệt thiết kế, dự toán 12/12 gói thầu sử dụng vốn ngân sách nhà nước, hoàn thành lựa chọn nhà thầu thi công 9/12 gói và khởi công gói thầu đầu tiên ngày 6/9/2025. Đối với các gói thầu sử dụng vốn do nhà đầu tư huy động, 11/14 gói đã được phê duyệt thiết kế, dự toán.

Anh Minh
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục