Trái chiều bức tranh cổ tức ngành dầu khí

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK)  Lợi nhuận cải thiện mạnh nhưng chính sách cổ tức của các doanh nghiệp dầu khí vẫn phân hóa, khi một số duy trì dòng tiền cho cổ đông, trong khi những doanh nghiệp khác ưu tiên nguồn lực cho tăng vốn và chu kỳ đầu tư mới.
Chính sách cổ tức của các doanh nghiệp dầu khí đang phân hóa theo nhu cầu vốn và giai đoạn đầu tư Chính sách cổ tức của các doanh nghiệp dầu khí đang phân hóa theo nhu cầu vốn và giai đoạn đầu tư

Cổ tức không chỉ là câu chuyện tỷ suất

Cổ phiếu dầu khí thường được nhìn nhận qua biến động giá dầu, triển vọng các dự án lớn và chu kỳ đầu tư của ngành. Tuy nhiên, trong bối cảnh thanh khoản thị trường có những giai đoạn suy giảm, dòng tiền thận trọng hơn, chính sách cổ tức cũng được nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn.

Theo dữ liệu TCBS Research, bức tranh cổ tức tại 7 doanh nghiệp gồm GAS, BSR, PLX, PVS, PVD, PVT và OIL cho thấy sự phân hóa đáng kể. GAS và PLX là hai doanh nghiệp duy trì cổ tức tiền mặt liên tục trong giai đoạn 2017-2025, trong khi một số doanh nghiệp chuyển sang trả cổ tức bằng cổ phiếu hoặc duy trì tỷ lệ tiền mặt thấp hơn để dành nguồn lực cho đầu tư và tăng vốn.

Tại GAS, cổ tức tiền mặt được duy trì ở mức 21-60% mệnh giá trong những năm qua. Năm 2025, doanh nghiệp đã chi 5.067 tỷ đồng, tương đương 2.100 đồng/cổ phiếu. Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 tiếp tục thông qua mức cổ tức 25% cho năm 2025, tương đương khoảng 6.200 tỷ đồng.

PLX cũng duy trì trả cổ tức tiền mặt trong 9 năm liên tiếp và đã chốt quyền nhận 1.200 đồng/cổ phiếu vào đầu tháng 8/2026.

Điểm đáng chú ý là khả năng duy trì cổ tức không chỉ phụ thuộc vào quy mô lợi nhuận, mà còn liên quan đến chất lượng dòng tiền, cấu trúc tài chính và nhu cầu vốn của từng doanh nghiệp.

GAS là trường hợp có nền tảng tài chính tương đối thuận lợi khi tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu ở mức rất thấp, trong khi lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm 2025 đạt khoảng 18%. Lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ năm 2025 đạt 11.414 tỷ đồng, tăng 9,8% so với năm 2024. Lợi nhuận năm 2026 được dự báo có thể đạt 15.394 tỷ đồng.

Ở PLX, câu chuyện có phần khác biệt do đặc thù phân phối xăng dầu khiến kết quả kinh doanh nhạy cảm với diễn biến giá đầu vào. Quý I/2026, doanh nghiệp lỗ 763 tỷ đồng trước khi lợi nhuận phục hồi trong quý II.

Với nhà đầu tư, đây cũng là lý do tỷ suất cổ tức không nên được xem như một chỉ tiêu độc lập. Một cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao chưa chắc hấp dẫn hơn nếu tỷ suất tăng chủ yếu do thị giá giảm hoặc lợi nhuận doanh nghiệp có tính chu kỳ lớn.

Cổ tức không tăng kịp theo lợi nhuận

Nếu nguồn vốn được tái đầu tư vào những dự án có tỷ suất sinh lời tốt, việc cổ tức tiền mặt thấp trong một vài năm chưa hẳn là bất lợi.

Bức tranh kinh doanh của các doanh nghiệp dầu khí đang có những chuyển biến tích cực.

Tổng lợi nhuận sau thuế năm 2025 của 7 doanh nghiệp nêu trên đạt 23.665 tỷ đồng, tăng 37,7% so với năm 2024, trong đó riêng GAS đóng góp khoảng 48%. Đáng chú ý, chỉ trong nửa đầu năm 2026, tổng lợi nhuận của nhóm đã đạt 29.471 tỷ đồng, vượt kết quả của cả năm 2025. BSR đóng góp tới 15.931 tỷ đồng nhờ diễn biến thuận lợi của biên lọc dầu.

Riêng quý II/2026, BSR ghi nhận lợi nhuận 7.666 tỷ đồng, gấp 9 lần cùng kỳ; GAS đạt 5.860 tỷ đồng, tăng 23,4%; PLX đạt 2.800 tỷ đồng, tăng 104,9%. PVT và PVS cũng ghi nhận mức tăng lần lượt 96,3% và 49,3%.

Ở chiều ngược lại, lợi nhuận của PVD giảm 31,9%, còn 163 tỷ đồng; OIL lỗ 132 tỷ đồng trong quý II/2026 sau khi đạt lợi nhuận 516 tỷ đồng trong quý I.

Dù vậy, lợi nhuận tăng mạnh chưa đồng nghĩa doanh nghiệp sẽ chuyển phần lớn nguồn lực sang cổ tức tiền mặt. BSR là ví dụ điển hình. Doanh nghiệp trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 30%, đồng thời chia thưởng cổ phiếu tỷ lệ 31,5% trong năm 2025. Đến tháng 8/2026, BSR mới quay trở lại trả cổ tức tiền mặt với mức 300 đồng/cổ phiếu.

Xét về phân bổ vốn, việc giảm tỷ lệ tiền mặt hoặc chuyển sang cổ phiếu không nhất thiết phản ánh sự suy giảm về năng lực tài chính. Trong nhiều trường hợp, đây là lựa chọn giữa việc trả tiền ngay cho cổ đông và giữ lại nguồn lực cho đầu tư, với kỳ vọng tạo ra quy mô lợi nhuận lớn hơn trong tương lai.

Theo TCBS, BSR hiện có tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu khoảng 0,2 lần. Dù lợi nhuận nửa đầu năm 2026 đã vượt cả năm 2025, doanh nghiệp vẫn ưu tiên tăng quy mô vốn điều lệ lên trên 50.000 tỷ đồng. Điều này phần nào cho thấy các doanh nghiệp dầu khí đang ở những giai đoạn khác nhau của chu kỳ đầu tư. Những doanh nghiệp có nền tảng vốn tương đối ổn định có nhiều điều kiện hơn để phân phối tiền cho cổ đông. Ngược lại, doanh nghiệp đang bước vào chu kỳ mở rộng có xu hướng giữ lại nguồn lực.

Nhà đầu tư nhìn cổ tức trong mối tương quan với tăng trưởng

Đối với nhà đầu tư, chính sách cổ tức vì thế cần được đặt cạnh triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp, thay vì chỉ so sánh tỷ suất tại một thời điểm.

Ông Trần Việt Khoa, nhà đầu tư theo trường phái dài hạn chia sẻ, với nhóm dầu khí, cổ tức tiền mặt đều đặn là một yếu tố tích cực, nhưng không phải tiêu chí duy nhất để lựa chọn cổ phiếu. Quan trọng hơn là doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận như thế nào, lượng tiền giữ lại được sử dụng vào đâu và các dự án đầu tư mới có khả năng cải thiện hiệu quả kinh doanh trong những năm tiếp theo hay không.

Theo ông Khoa, hai doanh nghiệp cùng tạo ra mức lợi nhuận tương đương nhưng có thể lựa chọn hai cách phân bổ hoàn toàn khác nhau. Doanh nghiệp trả phần lớn lợi nhuận bằng tiền mặt sẽ phù hợp hơn với nhóm nhà đầu tư ưu tiên thu nhập ổn định. Ngược lại, doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để đầu tư có thể hấp dẫn những nhà đầu tư chấp nhận thời gian chờ đợi dài hơn để tìm kiếm tăng trưởng.

“Nếu nguồn vốn được tái đầu tư vào những dự án có tỷ suất sinh lời tốt, việc cổ tức tiền mặt thấp trong một vài năm chưa hẳn là bất lợi. Ngược lại, nếu doanh nghiệp liên tục giữ lại lợi nhuận nhưng hiệu quả đầu tư không cải thiện, chính sách cổ tức thấp có thể trở thành vấn đề mà cổ đông cần cân nhắc”, ông Khoa nói.

Bài toán phân bổ vốn đặc biệt đáng chú ý với BSR, PVS và PVT trong giai đoạn hiện nay, khi nhu cầu vốn phục vụ mở rộng quy mô hoạt động tương đối lớn. Hiệu quả đầu tư sẽ là cơ sở quan trọng để đánh giá khả năng chuyển từ giai đoạn tích lũy vốn sang gia tăng phân phối lợi nhuận cho cổ đông.

Trong khi đó, ở PVD, PVT và OIL, bức tranh cổ tức có những đặc điểm riêng. PVD mới quay trở lại trả cổ tức tiền mặt 500 đồng/cổ phiếu sau thời gian dài gián đoạn. Trong giai đoạn 2017-2025, doanh nghiệp có 5/9 năm không thực hiện chi trả. Điều này phần nào phản ánh đặc thù chu kỳ của ngành khoan dầu khí, khi kết quả kinh doanh và nhu cầu đầu tư phụ thuộc lớn vào diễn biến thị trường.

PVT hai năm liên tiếp trả cổ tức bằng cổ phiếu nhằm dành vốn phát triển đội tàu. Với doanh nghiệp vận tải dầu khí, việc mở rộng năng lực vận chuyển đòi hỏi lượng vốn lớn, khiến chính sách phân phối lợi nhuận cần được đặt trong tương quan với kế hoạch đầu tư.

OIL duy trì mức cổ tức khoảng 2-2,5% bằng tiền mặt, nhưng kết quả kinh doanh gần đây biến động khá mạnh. Việc lỗ 132 tỷ đồng trong quý II/2026 sau khi lãi 516 tỷ đồng trong quý I cho thấy lợi nhuận của doanh nghiệp phân phối xăng dầu có thể thay đổi nhanh theo diễn biến giá đầu vào và điều kiện thị trường.

Cũng theo thống kê từ TCBS, trong năm 2026, tổng lượng tiền mặt dự kiến được GAS, PLX, BSR và OIL chi trả vào khoảng 9.500 tỷ đồng, trong đó GAS khoảng 6.208 tỷ đồng, PLX 1.525 tỷ đồng, BSR 1.502 tỷ đồng và OIL 259 tỷ đồng.

Nhìn rộng hơn, chính sách cổ tức đang phản ánh khá rõ vị thế khác nhau của các doanh nghiệp dầu khí trong chu kỳ phát triển. GAS và PLX duy trì dòng tiền tương đối đều cho cổ đông; BSR và PVS dành nhiều nguồn lực hơn cho tăng vốn và đầu tư; PVT ưu tiên mở rộng đội tàu, trong khi PVD và OIL chịu tác động rõ hơn từ tính chu kỳ của hoạt động kinh doanh.

Hoàng Minh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục