Tái định hình bức tranh ngành dầu khí Việt Nam

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK)  Giá dầu tăng mạnh đã giúp nhóm cổ phiếu dầu khí có nhịp thăng hoa trong những tháng đầu năm. Song triển vọng của nhóm này không chỉ phụ thuộc vào biến động ngắn hạn của giá dầu, mà ngày càng gắn liền với nỗ lực tăng cường an ninh năng lượng quốc gia.
Với nhóm cổ phiếu dầu khí, nhà đầu tư nên ưu tiên các doanh nghiệp có câu chuyện tăng trưởng rõ ràng Với nhóm cổ phiếu dầu khí, nhà đầu tư nên ưu tiên các doanh nghiệp có câu chuyện tăng trưởng rõ ràng

Từ diễn biến giá dầu đến câu chuyện an ninh năng lượng

Tính riêng tháng 5/2026, đà tăng của các cổ phiếu dầu khí như PVT (của Tổng công ty cổ phần Vận tải Dầu khí, GAS (của Tổng công ty Khí Việt Nam), PVS (của Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam) và PVD (của Tổng công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí Việt Nam) đã vượt diễn biến của chỉ số chung VN-Index lần lượt 22 điểm phần trăm, 17 điểm phần trăm, 13 điểm phần trăm và 11 điểm phần trăm khi giá dầu Brent đạt đỉnh và tăng 72% trong cùng giai đoạn. Đà tăng này cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với nhóm cổ phiếu dầu khí vẫn chủ yếu gắn với diễn biến giá dầu thô.

Dữ liệu lịch sử cho thấy, môi trường giá dầu cao thường hỗ trợ hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trong nước. Tuy nhiên, sự suy giảm các nguồn tài nguyên trong nước và chi phí đầu tư tăng cao đang tạo ra những thách thức đối với an ninh năng lượng quốc gia. Xu hướng này làm nổi bật nhu cầu xây dựng một chiến lược năng lượng đồng bộ hơn.

Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 893/QĐ-TTg (năm 2023) đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong định hướng chính sách, khi lần đầu tiên Việt Nam thiết lập một khuôn khổ quy hoạch năng lượng tổng thể, tích hợp các lĩnh vực từ nguyên liệu đầu vào (than, dầu khí, LNG…) đến khâu hạ nguồn - điện. Trên nền tảng đó, Quyết định 363/QĐ-BCT (2026) tiếp tục củng cố chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng theo hướng tích hợp, đồng thời định hướng phát triển cân bằng giữa các nguồn điện trong dài hạn.

Theo cách tiếp cận mới này, dù diễn biến giá dầu trên thị trường thế giới vẫn là động lực quan trọng đối với lợi nhuận ngành trong ngắn hạn, câu chuyện tăng trưởng dài hạn của ngành dầu khí Việt Nam ngày càng gắn liền với nỗ lực tăng cường an ninh năng lượng quốc gia.

Lô B và chuỗi giá trị LNG - hai mảnh ghép quan trọng dần hoàn thiện

Dự án Lô B được tái khởi động sau hơn một thập kỷ tạo nhiều kỳ vọng cho các nhà đầu tư, nhưng tiến độ FID (Quyết định đầu tư cuối cùng) vẫn là yếu tố then chốt quyết định khả năng giải ngân vốn và cam kết đầu tư từ các đối tác nước ngoài. Điểm nghẽn lớn nhất của dự án này nằm ở chi phí đầu tư cao, tạo ra áp lực đáng kể về khả năng hấp thụ chi phí điện ở khâu hạ nguồn đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).

Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, rào cản này đang dần được tháo gỡ khi tình hình tài chính của EVN đã được cải thiện đáng kể. Theo báo cáo tài chính hợp nhất năm 2025 công bố gần đây, EVN ghi nhận lợi nhuận 52.000 tỷ đồng trong năm qua, cơ bản xóa hết khoản lỗ lũy kế khoảng 39.000 tỷ đồng. Sự phục hồi tài chính của EVN là một diễn biến quan trọng đối với dự án Lô B, bởi điều này giúp giảm bớt rào cản về khả năng chi trả của bên mua điện - vốn là một trong những nút thắt lớn đối với tính kinh tế của dự án.

Điện khí LNG đang trở thành một trụ cột quan trọng trong chiến lược an ninh năng lượng của Việt Nam. Theo Quy hoạch Điện VIII, Việt Nam dự kiến phát triển 21 nhà máy điện khí LNG với tổng công suất 36 GW đến năm 2035. Trong bối cảnh nhu cầu điện dự báo tăng khoảng 10%/năm trong giai đoạn từ năm 2025 - 2030 và giảm tỷ trọng huy động điện than, điện khí LNG được kỳ vọng sẽ đóng góp khoảng 11% vào tổng sản lượng điện cả nước vào năm 2030.

Sự mở rộng điện khí LNG kéo theo nhu cầu nhập khẩu LNG tăng mạnh, từ dưới 1 tỷ m3 hiện nay lên khoảng 14 - 18 tỷ m3 vào năm 2030. Điều này thúc đẩy hoạt động đầu tư vào hạ tầng LNG, với các cụm kho cảng LNG đang dần hình thành, nổi bật nhất hiện nay là cụm kho cảng LNG Đông Nam Bộ (Thị Vải - Cái Mép).

Trong đó, kho cảng LNG Thị Vải do Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) vận hành đóng vai trò hạ tầng LNG chiến lược quốc gia, cung cấp khí cho hai nhà máy điện khí LNG Nhơn Trạch 3 và 4. Kho cảng LNG Cái Mép (Hải Linh/AG&P LNG) là một trong những dự án LNG đầu tiên có sự tham gia đáng kể của nhà đầu tư nước ngoài, tập trung vào phân phối LNG thương mại. Sự bổ sung lẫn nhau giữa hai dự án đang từng bước hình thành hệ sinh thái LNG hoàn chỉnh đầu tiên tại Việt Nam.

Thị trường LNG tại Việt Nam thời gian tới sẽ có sự tham gia lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài, một mặt giúp giảm áp lực vốn và phát triển hạ tầng, mặt khác tạo sự cạnh tranh lành mạnh về giá, giúp giảm áp lực cho khách hàng cuối cùng là các nhà máy điện và khu công nghiệp.

Cơ hội đầu tư

Chúng tôi cho rằng, với nhóm cổ phiếu dầu khí, nhà đầu tư nên ưu tiên các doanh nghiệp có câu chuyện tăng trưởng rõ ràng hơn là chạy theo biến động giá dầu và các thông tin chưa xác thực.

Ở cấp độ doanh nghiệp, Tổng công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí Việt Nam và Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam là hai cái tên hưởng lợi trực tiếp nhất từ tiến độ triển khai dự án Lô B. Tổng công ty Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí đã ký hợp đồng khoan với nhà điều hành Phú Quốc POC cho chiến dịch khoan bắt đầu từ tháng 3/2027, trong khi Tổng công ty cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam ghi nhận những tiến triển tích cực tại các gói thầu EPCI.

Đối với Tổng công ty Khí Việt Nam, sự phát triển của thị trường LNG và các trung tâm LNG mới như Thị Vải và Sơn Mỹ tiếp tục củng cố vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng khí quốc gia, dù áp lực cạnh tranh từ các nhà đầu tư nước ngoài có thể gia tăng trong thời gian tới, khi Việt Nam ngày càng khuyến khích hợp tác quốc tế trong mảng LNG.

Lê Kim Ngân
Chuyên viên Phân tích Cao cấp, Khối Khách hàng Tổ chức, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục