Ông đánh giá thế nào về dòng vốn FDI vào Việt Nam trong 8 tháng của năm 2026?
Tôi cho rằng, vốn FDI đăng ký trong 8 tháng đầu năm nay rất ấn tượng, nhưng tôi quan tâm hơn là vốn thực hiện, bởi đăng ký nhiều mà vốn thực hiện ít thì không có nhiều ý nghĩa. Trong 8 tháng đầu năm nay, vốn thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước và cao nhất trong 8 tháng của 5 năm qua, đã minh chứng doanh nghiệp nước ngoài không chỉ đăng ký cho vui, mà họ đã triển khai dự án.
Số dự án cấp mới từ đầu năm đến nay chỉ tăng 9,4%, trong khi vốn đăng ký tăng 96,8%, cho thấy quy mô vốn của mỗi dự án FDI đã tăng đáng kể, hay nói cách khác, chất lượng FDI đang tốt lên.
Đã đến lúc chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, theo đúng quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng... làm tiêu chí chủ yếu.
Có thể hiểu, nhà đầu tư nào sử dụng công nghệ cao, công nghệ Việt Nam đang cần để chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, sẵn sàng và cam kết chuyển giao công nghệ ít nhất cũng bằng bình quân của các nước Top 4 trong khu vực ASEAN thì “trải thảm đỏ” mời vào. Còn nếu không, đặc biệt với những lĩnh vực mà doanh nghiệp trong nước đã đảm nhận được, những ngành thâm dụng lao động, sử dụng nhiều tài nguyên, năng lượng như dệt may, da giày, xi măng, sắt thép... thì nên khéo léo từ chối.
| |
Việt Nam sẽ chú trọng thu hút FDI theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo |
Áp lực tăng trưởng 2 con số trong cả giai đoạn 2026-2030 có khiến các địa phương không dễ từ chối những dự án FDI chất lượng chưa cao, thưa ông?
Đúng là các địa phương khá áp lực trước mục tiêu tăng trưởng 2 con số, nhất là những địa phương 9 tháng không đạt mức tăng trưởng bình quân của cả nước và tăng trưởng dưới 10%. Tốc độ tăng trưởng GRDP của từng địa phương không còn là mục tiêu phấn đấu như mọi năm, không còn là kế hoạch, mà là trách nhiệm đã được Chính phủ phân giao cụ thể tại Nghị quyết 168/NQ-CP (ngày 27/6/2026).
Trong đó, có những địa phương được giao chỉ tiêu tăng trưởng rất cao như Hải Phòng và Quảng Ninh 13%; Bắc Ninh 12,5%; Hưng Yên 11,5%; Đà Nẵng 11,22%; Nghệ An 11,02%... Tôi nghĩ, địa phương nào cũng tìm mọi cách để đạt chỉ tiêu vì tăng trưởng GRDP là một trong những tiêu chí để xếp loại thi đua của lãnh đạo địa phương trong việc hoàn thành nhiệm vụ.
Muốn tăng trưởng kinh tế thì cần phải có vốn, cả vốn trong nước và vốn FDI. Vì vậy, có thể dẫn tới hiện tượng chấp nhận thu hút vốn bằng mọi giá. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, các địa phương cần thay đổi cách tiếp cận, không chỉ nhìn vào quy mô vốn mà phải coi trọng hơn chất lượng, hiệu quả và những đóng góp lâu dài của dự án đối với nền kinh tế địa phương. Nếu không lựa chọn kỹ, áp lực tăng trưởng trước mắt có thể khiến chúng ta bỏ qua yêu cầu thu hút những dự án FDI có công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, có khả năng kết nối và lan tỏa tới doanh nghiệp trong nước.
Quan điểm của Nghị quyết 10-NQ/TW là chuyển từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước. Đây cũng là cách để các địa phương vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, vừa nâng dần chất lượng dòng vốn FDI, thay vì chạy theo số lượng vốn đăng ký.
Nghị quyết 10-NQ/TW còn hàm chứa quan điểm tránh tình trạng “cạnh tranh xuống đáy” trong thu hút vốn FDI?
Đúng vậy. Tôi đánh giá đây là quan điểm rất sáng suốt, bởi nếu không, vì mục tiêu tăng trưởng trước mắt, vì chỉ tiêu đã được phân giao, địa phương nào cũng “trải chiếu hoa” mời FDI vào đầu tư. Thu hút được vốn FDI, trước mắt kinh tế địa phương tăng trưởng cao hơn, giải quyết được công ăn việc làm, thu ngân sách vượt dự toán, nhưng đứng trên phương diện kinh tế vĩ mô thì kinh tế cả nước không được bao nhiêu với các dự án thâm dụng lao động, chủ yếu gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng sản xuất tại Việt Nam thấp.
Về lâu dài, khi hết thời gian ưu đãi, giá nhân công không còn hấp dẫn so với nhiều nước, lợi nhuận đầu tư không được như kỳ vọng, dự án FDI rút đi đầu tư ở nước khác, khi đó chúng ta không còn được gì, đặc biệt là trong điều kiện doanh nghiệp nội địa do không thể cạnh tranh được với FDI nên không thể vươn lên tiếp cận thị trường.
Mặc dù áp lực tăng trưởng GRDP trên địa bàn rất lớn, nhưng lãnh đạo các địa phương, nhất là những địa phương có điều kiện, phải dũng cảm từ chối các dự án FDI không phù hợp.
Chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước đang được đặt ra như những yêu cầu quan trọng trong thu hút FDI. Theo ông, đâu là những điều kiện để thực hiện được mục tiêu này?
Trước thực tế doanh nghiệp FDI không chịu chuyển giao công nghệ và sự tham gia của doanh nghiệp nội địa vào hệ sinh thái FDI rất thấp, nhiều chuyên gia kinh tế đã đưa ra kinh nghiệm của Trung Quốc để học tập trong chiến lược thu hút FDI. Tôi cho rằng, rất khó học tập kinh nghiệm của Trung Quốc bởi họ có nhiều thế mạnh mà Việt Nam không có.
Họ là nền kinh tế tăng trưởng rất nhanh trong thời gian dài và đã vươn lên thứ 2 thế giới. Họ không chỉ là công xưởng của thế giới, mà còn là thị trường cực lớn với hơn 1,4 tỷ dân có mức thu nhập và chi tiêu khá cao. Đặc biệt, sau nhiều thập kỷ đầu tư mạnh mẽ, doanh nghiệp Trung Quốc không chỉ lớn mạnh về quy mô, tiềm lực tài chính, mà khoa học - công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực cũng đã ở tầm cao mới so với nhiều nước trên thế giới.
Với những thế mạnh này, Trung Quốc có quyền mặc cả, yêu cầu FDI muốn đầu tư phải chuyển giao công nghệ, phải kết nối với doanh nghiệp nội địa trong chuỗi sản xuất. Việt Nam mặc dù là thị trường hơn 100 triệu dân, nền kinh tế được xếp vào nhóm thu nhập trung bình cao, nhưng còn quá nhỏ so với Trung Quốc nên không thể học theo kinh nghiệm của họ. Hơn nữa, doanh nghiệp FDI có muốn chuyển giao công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, thì doanh nghiệp và nguồn nhân lực Việt Nam cũng chưa thể tiếp cận được.
Chúng ta thực hiện chính sách “ngoại giao cây tre”: gốc bền vững, thân chắc chắn, cành uyển chuyển, có thể nói là rất thành công. Chính sách kinh tế nói chung, thu hút FDI nói riêng, theo tôi cũng nên thực hiện theo phương châm “ngoại giao cây tre”, tức là phải kiên định, bền vững, chắc chắn và uyển chuyển.
Chưa kể, mặc dù nằm trong danh sách ưu tiên, song Việt Nam cũng chỉ là một trong những sự lựa chọn của nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài Việt Nam, họ còn có nhiều địa chỉ đầu tư cũng hấp dẫn không kém như Ấn Độ, Indonesia, Philippines... Vì vậy, nhằm khuyến khích chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, Nghị quyết 10-NQ/TW đã có quan điểm chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Vậy khả năng tiếp nhận và làm chủ công nghệ cao, công nghệ tiên tiến của doanh nghiệp và nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay ra sao, thưa ông?
Nhìn thẳng vào sự thật thì trình độ khoa học, công nghệ của ta còn khá thấp. Giả sử có doanh nghiệp FDI công nghệ cao nào đó “hào phóng” chuyển giao cho Việt Nam thì chúng ta cũng không tiếp cận được, vì năm nay phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 29,5% lực lượng lao động.
Đây là số lao động được cơ sở đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ sau khi được đào tạo một thời gian, chứ không phải là lao động chất lượng cao để có đủ trình độ tiếp cận với công nghệ cao.
Tăng trưởng kinh tế dựa vào khoa học, công nghệ, không phải chỉ cần mệnh lệnh hành chính là làm được ngay. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ khả năng tiếp cận và khai thác công nghệ, kỹ thuật tiên tiến là cả một quá trình. Ở Việt Nam, nếu nhanh thì cũng phải 5-7 năm sau mới có kết quả, bình thường là 10-15 năm. Nếu có quyết tâm liên tục, không ngừng nghỉ thì chúng ta sẽ đạt được kết quả.
Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ đặt quan điểm phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; đến năm 2030, trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới. Chúng ta “từng bước tự chủ” và “đến năm 2030 mới đạt mức trên trung bình của thế giới” thì lộ trình tiếp cận chuyển giao công nghệ của FDI cũng theo hướng này; đồng thời từ chối những dự án FDI công nghệ thấp, những ngành nghề, lĩnh vực mà doanh nghiệp nội địa đã và đang làm tốt. Những địa phương có điều kiện tốt hơn nên từ chối dự án FDI thâm dụng lao động để nhường cho địa phương khác.