Theo TS. Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính), thâm hụt thương mại trước mắt chưa tác động đến tăng trưởng kinh tế, vì vậy, Nghị quyết 168/NQ-CP cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 vẫn quyết tâm tăng trưởng từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Việt Nam liên tục xuất siêu kể từ năm 2016, nhưng 6 tháng đầu năm nay thì ngược lại, bà giải thích thế nào về hiện tượng này?
Theo số liệu của Cục Hải quan, nửa đầu năm nay (tính đến hết ngày 15/6/2026), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nước ta đạt 496,65 tỷ USD, trong đó xuất khẩu 239,93 tỷ USD, nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD. Đây là lần đầu tiên Việt Nam nhập siêu, với kim ngạch khá lớn trong vòng 10 năm trở lại đây.
Kể từ khi cuộc khủng hoảng xung đột Trung Đông xảy ra, kim ngạch nhập khẩu đã cao hơn xuất khẩu, nguyên nhân đầu tiên là giá xăng dầu thành phẩm nhập khẩu và giá dầu thô trên thị trường thế giới tăng. Việt Nam nhập khẩu dầu thô về để tinh chế xăng dầu thành phẩm, nhưng trước diễn biến khó lường tại cuộc chiến ở Trung Đông, nên hạn chế xuất khẩu xăng dầu thành phẩm và điều này cũng góp phần khiến nhập siêu gia tăng.
Trong 5 tháng đầu năm, Việt Nam đã chi 3,544 tỷ USD để nhập khẩu dầu thô, về lượng chỉ bằng chưa đến 81% so với cùng kỳ năm 2025, nhưng kim ngạch tăng hơn 4,1%. Cũng trong thời gian này, Việt Nam nhập khẩu 4,89 tỷ USD xăng dầu, tăng 81,6% về kim ngạch, trong khi chỉ tăng 15% về lượng.
Do tác động từ cuộc chiến ở Trung Đông, giá nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng đều tăng rất mạnh, đặc biệt là khí đốt hóa lỏng và các sản phẩm từ dầu mỏ. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến nhập siêu.
| |
Đặc điểm ngoại thương của Việt Nam là kim ngạch xuất khẩu tính theo giá FOB. Ảnh: Đức Thanh |
Giá nhập khẩu cho sản xuất tăng, nhưng giá thành sản phẩm cũng tăng, nên mức chênh lệch xuất nhập khẩu không thể lên đến 16,8 tỷ USD trong nửa đầu năm nay, thưa bà?
Giá nhập khẩu tăng mạnh có nguyên nhân phần lớn là chi phí vận chuyển, logistics tăng. Đặc điểm ngoại thương của Việt Nam là kim ngạch xuất khẩu tính theo giá FOB, tức là giá bán tính tại cảng biển và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá CIF, bao gồm chi phí logistics, vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu. Vì vậy, chi phí trung gian tăng, giá nhập khẩu tăng, trong khi giá xuất khẩu không tăng, nên giá xuất khẩu một số mặt hàng dù tăng, vẫn thấp hơn rất nhiều so với mức độ tăng giá của nhập khẩu.
Thâm hụt thương mại còn có nguyên nhân là một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực điện tử, chip bán dẫn, công nghệ cao đang ở giai đoạn đầu tư nhà máy, nên tập trung nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, đồng thời nhập khẩu phụ tùng, phụ kiện, chi tiết, nguyên liệu về để chuẩn bị sản xuất; nhiều doanh nghiệp đã có đơn hàng, nhưng chưa xuất khẩu thành phẩm cũng góp phần không nhỏ trong tổng số 16,8 tỷ USD nhập siêu.
Tuy nhiên, nhập siêu ở nguyên nhân này là điều đáng mừng, cho thấy sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất và là tín hiệu xuất khẩu sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, nhất là căng thẳng ở Trung Đông đang lắng dịu, hòa bình đã mở ra khi Hoa Kỳ và Israel với Iran đã tìm được tiếng nói chung, đạt được nhiều thỏa thuận quan trọng.
Một nguyên nhân nữa cũng dẫn đến nhập siêu là trong khi chúng ta nhập siêu từ nhiều đối tác quan trọng, thì Hoa Kỳ lại là thị trường xuất siêu rất lớn và để cân bằng thương mại, Việt Nam gia tăng nhập khẩu thiết bị, máy móc, trong đó có máy bay từ Hoa Kỳ. Đây cũng là tín hiệu đáng mừng, vì nhu cầu máy bay của Việt Nam rất lớn để phục vụ ngành du lịch và nhu cầu di chuyển của người dân.
Theo bà, nhập siêu còn nguyên nhân nào nữa không?
Trước đây, chúng ta nhập khẩu nguyên vật liệu, bán thành phẩm về sản xuất hàng hóa chủ yếu để xuất khẩu, nhất là khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm khoảng 73-80% tổng kim ngạch xuất khẩu). Thậm chí, doanh nghiệp trong khu chế xuất còn xuất khẩu 100% sản phẩm. Vì vậy, kim ngạch xuất khẩu luôn cao hơn nhập khẩu do một phần giá trị gia tăng được tạo ra tại Việt Nam, chủ yếu là giá nhân công, điện nước, chi phí để sản xuất...
Còn hiện tại đã có sự chuyển dịch xu hướng, thay vì xuất khẩu gần hết sản phẩm, một phần sản phẩm được tiêu thụ tại thị trường trong nước. Chẳng hạn, với xe máy điện, ô tô điện, các doanh nghiệp phải nhập khẩu phụ tùng, chi tiết, linh kiện, đặc biệt là pin hoặc nguyên liệu để sản xuất pin do trong nước chưa sản xuất được, nhưng ô tô điện, xe máy điện chủ yếu được bán ở thị trường trong nước.
Hay như các nhà máy năng lượng tái tạo, nhất là điện gió, điện mặt trời, hiện chưa thể sản xuất được máy móc, tua-bin, pin dự trữ..., buộc phải nhập khẩu, nhưng điện năng sản xuất ra được tiêu thụ ở thị trường nội địa. Nhập khẩu nhưng không xuất khẩu mà để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và thị trường trong nước, nên xuất siêu không có gì khó hiểu.
Tăng trưởng GDP của Việt Nam những năm qua một phần là nhờ xuất siêu. Vậy nhập siêu như hiện tại tác động thế nào đến tăng trưởng kinh tế?
Có nhiều cách tính GDP, trong đó phương pháp sử dụng (bằng chi tiêu cuối cùng cộng tích lũy tài sản và chênh lệch xuất nhập khẩu) được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Chênh lệch xuất nhập khẩu bị âm (thâm hụt cán cân thương mại), về tính toán số học, chắc chắn sẽ kéo lùi tốc độ tăng trưởng GDP.
Tuy nhiên, phần hàng hóa không xuất khẩu được sử dụng trong nước (tiêu dùng cuối cùng) như ô tô, xe máy, sản lượng điện... lại tăng lên. Máy móc, dây chuyền, thiết bị, công nghệ nhập khẩu về nhưng không xuất khẩu mà để đầu tư, thì tích lũy tài sản trong nước tăng.
Như vậy, về tổng thể, hoạt động ngoại thương chuyển trạng thái từ xuất siêu sang nhập siêu có tác động đến tăng trưởng GDP, nhưng không thể tính toán ngay bằng công thức toán học đơn thuần, mà cần thời gian để cập nhật dữ liệu và tính toán xem bao nhiêu kim ngạch nhập khẩu vào tiêu dùng cuối cùng, bao nhiêu vào tích lũy tài sản.
Kinh tế chuyển từ trạng thái xuất siêu sang nhập siêu ngoài tác động đến tăng trưởng GDP, còn tác động đến nhiều cán cân kinh tế vĩ mô khác nữa, nhất là dự trữ ngoại tệ, kiểm soát tỷ giá, trả nợ nước ngoài, bảo đảm khả năng thanh toán hàng nhập khẩu... Vì vậy, không chỉ Việt Nam, mà bất cứ nền kinh tế nào cũng muốn xuất siêu, ít nhất cũng phải cân bằng cán cân thương mại.
Nếu không kiểm soát tốt, tốc độ nhập siêu ngày càng lớn, cũng dẫn đến bất ổn cho nền kinh tế?
Chính vì vậy, Bộ Tài chính, Bộ Công thương và các bộ, ngành hữu quan phối hợp chặt chẽ để phân tích, mổ xẻ cụ thể từng nhóm mặt hàng, mặt hàng nhập siêu lớn (gồm dây chuyền sản xuất, trang thiết bị, phụ tùng, linh kiện, chi tiết máy móc, nguyên nhiên vật liệu, phụ kiện, hàng tiêu dùng) và nhập từ thị trường nào để từ đó đề xuất các chính sách phù hợp nhằm kiểm soát nhập siêu.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6/2026. Về sản xuất, xuất nhập khẩu, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục triển khai các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là về kiểm dịch, môi trường, xuất nhập khẩu..., giảm tối đa chi phí logistics của nền kinh tế; thường xuyên tổ chức đối thoại, trao đổi trực tiếp với doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng để chủ động cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo đúng tinh thần của Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân.
Để giảm nhập siêu, tiến tới xuất siêu trở lại, đặc biệt là phải chủ động được hoạt động sản xuất, Chính phủ yêu cầu Bộ Công thương phối hợp với các hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng rà soát, xác định các ngành, lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, linh kiện có khả năng nội địa hóa theo lộ trình và có giải pháp, chính sách cụ thể theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, gắn với kết quả đầu ra cụ thể để thực hiện nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, từng bước khắc phục tình trạng nhập siêu.
Muốn tăng trưởng bền vững, chúng ta cần phải làm chủ được đầu vào, đầu ra và công nghệ. Còn nếu chỉ gia công, lắp ráp, “lấy công làm lãi”, với giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc vào bên ngoài, thì dù có xuất siêu hàng chục tỷ USD mỗi năm, cũng không mang lại nhiều lợi ích và khó có thể phát triển bền vững mỗi khi đối tác hay thị trường thế giới có sự thay đổi tiêu cực.
Thậm chí, chính sách của các cường quốc kinh tế thay đổi, chuyển hướng cũng ngay lập tác động tới hoạt động sản xuất, xuất khẩu, đầu tư và ảnh hưởng ngay tới tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững nếu chúng ta không chủ động được đầu vào, đầu ra và công nghệ.