Thách thức mới đặt ra bài toán khó cho ngân hàng trung ương

(ĐTCK) Nhìn bề ngoài, cuộc khủng hoảng năng lượng ở Trung Đông chính xác là loại cú sốc ngoại sinh mà các ngân hàng trung ương nên bỏ qua , nhưng thực tế lần này đang khiến các ngân hàng trung ương khó đứng ngoài.

Cuộc xung đột leo thang ở Trung Đông đã đẩy giá dầu Brent tăng khoảng 50% lên gần 110 USD/thùng, làm tăng nguy cơ lạm phát toàn cầu. Về lý thuyết, các ngân hàng trung ương nên tránh thay đổi chính sách liên quan đến sự kiện này trừ khi có dấu hiệu rõ ràng cho thấy điều này sẽ kéo dài hoặc làm tăng kỳ vọng lạm phát trong dài hạn.

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) đã kêu gọi các nhà hoạch định chính sách không nên vội vàng hành động, khi cho rằng cuộc khủng hoảng hiện tại là một ví dụ điển hình về việc nên bỏ qua một cú sốc nguồn cung.

Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương có thể không làm theo khuyến nghị này. Họ vẫn chịu áp lực từ những chỉ trích rằng đã phản ứng quá chậm sau khi xung đột Nga-Ukraine nổ ra vào năm 2022, khi từng đánh giá sai rằng lạm phát chỉ là tạm thời và sau đó mức giá cao đã kéo dài trong nhiều năm.

Thế giới đã chứng kiến ​​hàng loạt các sự kiện “thiên nga đen” trong những năm gần đây, có nguy cơ làm tăng kỳ vọng lạm phát về mặt cấu trúc, dẫn đến vòng xoáy tăng giá và nhu cầu tăng lương ngày càng cao.

Đầu tiên là đại dịch Covid đã dẫn đến sự tăng vọt đáng kể về giá cả khi chuỗi cung ứng bị tắc nghẽn kết hợp với sự tăng vọt nhu cầu do các biện pháp kích thích kinh tế. Điều đó nhanh chóng được tiếp nối bởi cú sốc năng lượng toàn cầu do ảnh hưởng từ xung đột Nga-Ukraine. Giờ đây, cú sốc mới là xung đột Trung Đông lại tiếp tục gây áp lực lên thị trường toàn cầu.

Lãi suất cơ bản của các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới.

Nhưng có một sự khác biệt cơ bản giữa cú sốc dầu mỏ mới và sự bùng nổ của lạm phát hậu đại dịch. Lạm phát hiện nay đã thể hiện rõ qua giá xăng tăng cao, khi Iran cắt giảm dòng chảy dầu và hoạt động vận tải qua. Lạm phát năm 2021-2022 được thúc đẩy bởi nhu cầu tăng vọt khi người tiêu dùng được hưởng lợi từ các biện pháp kích thích kinh tế và quay trở lại chi tiêu sau thời gian bị “đóng băng” vì các đợt phong tỏa Covid.

Trong bối cảnh đó, hệ thống thương mại toàn cầu – vốn đã giúp kiềm chế lạm phát trong nhiều thập kỷ – đang bị rạn nứt bởi các cuộc chiến thuế quan của Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Tổng hợp tất cả những yếu tố này lại, có thể thấy các nhà hoạch định chính sách sẽ khó có thể tiếp tục đứng ngoài lâu – bất kể đó có phải là lựa chọn phù hợp hay không.

Lý do cần thận trọng

Ngân hàng Anh (BoE), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đều giữ nguyên lãi suất trong các cuộc họp chính sách gần đây nhất. Nhưng hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy họ sẽ bỏ qua cuộc khủng hoảng năng lượng hiện tại.

“Chúng tôi nhận thức rõ về diễn biến của lạm phát trong vài năm qua và cách một loạt cú sốc đã làm gián đoạn tiến trình mà chúng ta đã đạt được theo thời gian”, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết trong cuộc họp chính sách tháng trước.

Biên bản cuộc họp chính sách tháng 3 của BoE cảnh báo rằng “các hộ gia đình và doanh nghiệp có thể nhạy cảm hơn với bất kỳ cú sốc lạm phát mới nào, sau những cú sốc nguồn cung tiêu cực liên tiếp trong thời gian gần đây”.

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho biết: “Nếu tình trạng này kéo dài, giá năng lượng cao có thể dẫn đến lạm phát gia tăng trên diện rộng thông qua các hiệu ứng gián tiếp, một tình huống cần được theo dõi chặt chẽ”.

Các ngân hàng trung ương có thể cảm thấy buộc phải hành động trừ khi eo biển Hormuz sớm được mở cửa hoàn toàn.

Chưa vội thay đổi chính sách

Bài học từ đợt tăng lạm phát hậu đại dịch không nhất thiết là phải hành động nhanh hơn, mà là phải truyền đạt thông tin tốt hơn. Khi đó đã có những sai lầm, đặc biệt là việc cho rằng việc giá cả tăng vọt chỉ là tạm thời, nhưng rõ ràng các ngân hàng trung ương đang thận trọng hơn về các dự báo mà họ đưa ra lần này.

Cả ECB và BoE đều đã xây dựng các kịch bản để đánh giá nền kinh tế có thể diễn biến ra sao trong những điều kiện khác nhau.

Trong báo cáo kịch bản kiểm tra sức chịu đựng (stress test) thường niên công bố vào tháng 2, Fed đã sử dụng mức lạm phát dự báo 2,2% cho kịch bản cơ sở và 1% cho kịch bản tiêu cực nghiêm trọng – vốn thường mô phỏng một cuộc suy thoái do cú sốc cầu.

Kịch bản cơ sở của ECB cho rằng lạm phát ở mức 2% vào năm tới, kịch bản bất lợi dự báo 2,1%, trong khi kịch bản nghiêm trọng là 4,8%. Chỉ có kịch bản xấu nhất mới báo hiệu cần phải tăng lãi suất.

BoE sẽ công bố các kịch bản tương đương vào cuối tháng 4. Nếu được củng cố bởi cam kết kiên định đạt được mục tiêu lạm phát trong trung hạn, những kịch bản như vậy có thể giúp ổn định kỳ vọng lạm phát mà không cần các ngân hàng trung ương phải nhanh chóng sử dụng đòn bẩy chính sách.

Hạc Hiên
Theo báo chí nước ngoài

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục