Quản trị vốn nhà nước và những đòi hỏi mới

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, mà còn phải tạo ra một mô hình tăng trưởng mới dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo… Khu vực kinh tế nhà nước - một trong ba trụ cột chính của nền kinh tế - đang đứng trước những yêu cầu mới.
Từ đại dịch Covid đến nay, SCIC đầu tư 14.665 tỷ đồng vào Vietnam Airlines, giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng âm vốn chủ sở hữu và có thêm nguồn lực phục hồi Từ đại dịch Covid đến nay, SCIC đầu tư 14.665 tỷ đồng vào Vietnam Airlines, giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng âm vốn chủ sở hữu và có thêm nguồn lực phục hồi

Những điểm nghẽn

Báo cáo của Chính phủ về hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp cho biết, tính đến ngày 31/12/2024, cả nước có 843 doanh nghiệp có vốn Nhà nước, bao gồm 476 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; 197 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; 142 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống. Tổng tài sản ước tính khoảng hơn 4 triệu tỷ đồng, tổng vốn chủ sở hữu khoảng 2 triệu tỷ đồng.

Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được đánh giá đạt kết quả tích cực trong hoạt động sản xuất - kinh doanh; các chỉ tiêu về tài chính (đặc biệt là doanh thu, lãi phát sinh trước thuế, các khoản nộp ngân sách nhà nước) có sự tăng trưởng so với năm trước, góp phần đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Các DNNN, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục đóng vai trò chi phối, chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực có tính chất chiến lược, thiết yếu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội; góp phần xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cần thiết cho nền kinh tế…

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả tích cực, hoạt động quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp trong thời gian qua còn một số hạn chế, vướng mắc.

Về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, việc xác định nội hàm quản lý đối với vốn nhà nước đã đầu tư vào doanh nghiệp vẫn còn có quan điểm đồng nhất vốn, tài sản của doanh nghiệp có vốn nhà nước đầu tư là vốn, tài sản của Nhà nước, dẫn tới việc có tình trạng can thiệp trực tiếp vào quản trị sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, mà chưa đảm bảo thống nhất thông qua cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn, người đại diện vốn để thực hiện các quyền của chủ sở hữu Nhà nước với vai trò là nhà đầu tư vốn vào doanh nghiệp.

Khuôn khổ pháp lý về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng chưa quy định rõ ràng, đồng bộ về thẩm quyền, trách nhiệm của chủ sở hữu vốn nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước và thẩm quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp trong quyết định đầu tư, mua sắm tài sản, đầu tư tài chính, thẩm quyền, trình tự, thủ tục đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp. Tiêu chí đo lường, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp cũng chưa rõ ràng, cụ thể.

Hoạt động giám sát vẫn chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu tài chính và tình trạng bảo toàn vốn, trong khi chưa phản ánh đầy đủ các khía cạnh quan trọng khác như hiệu quả sử dụng vốn, năng suất, đổi mới công nghệ, mức độ tham gia vào chuỗi giá trị, mức độ hoàn thành các mục tiêu chiến lược của Nhà nước... Việc thiếu một hệ thống tiêu chí và chỉ tiêu thống nhất cũng gây khó khăn cho việc so sánh, xếp loại và cảnh báo sớm đối với doanh nghiệp, dự án hoặc danh mục vốn có nguy cơ mất an toàn.

Về đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, các DNNN có quy mô lớn như một số tập đoàn, tổng công ty chưa thể hiện vai trò dẫn dắt, tạo động lực, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng tham gia, thúc đẩy phát triển liên kết chuỗi giá trị gia tăng. Hầu hết các DNNN, đặc biệt là các tập đoàn, tổng công ty thường hoạt động hiệu quả ở các ngành, lĩnh vực có lợi thế tự nhiên (khai thác khoáng sản, dầu khí), hoặc thống lĩnh thị trường do lịch sử để lại (như viễn thông, tài chính tín dụng) hoặc có rào cản gia nhập ngành tự nhiên. Các doanh nghiệp đó có xu hướng khai thác lợi thế này ở thị trường trong nước mà chưa chú trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.

Hầu hết các tập đoàn, tổng công ty hoạt động trong ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn đều vận hành theo phương thức khép kín, thực hiện gần như toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất - kinh doanh để tạo thành chuỗi sản xuất khép kín nội bộ, chưa tạo nhiều điều kiện để doanh nghiệp khác tham gia.

Một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước có hiệu quả sản xuất - kinh doanh thấp, năng lực cạnh tranh hạn chế. Tình trạng nợ lớn, thua lỗ, thất thoát và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả vẫn còn xảy ra ở một số doanh nghiệp.

Bối cảnh đặt ra yêu cầu mới

Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra yêu cầu phải huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn mọi nguồn lực của nền kinh tế. Trong đó, vốn nhà nước tại doanh nghiệp là một nguồn lực quan trọng, nhưng chỉ có thể phát huy đầy đủ vai trò khi phương thức quản lý và đầu tư được đổi mới căn bản.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật số 68/2025/QH15 và Nghị quyết số 25/2026/QH16 xác lập yêu cầu nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, đổi mới quản trị DNNN theo chuẩn quốc tế hiện đại, tăng cường vai trò tiên phong, dẫn dắt trong những lĩnh vực quan trọng; đồng thời, cổ phần hóa, thoái vốn phải bảo đảm hiệu quả, không làm thất thoát, lãng phí.

Để khu vực kinh tế nhà nước nói chung, DNNN nói riêng thực hiện vai trò trên, tư duy quản lý và đầu tư vốn nhà nước cần phải có bước đột phá.

Thứ nhất, cần tuân thủ nguyên tắc “quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp là hoạt động quản lý của chủ sở hữu vốn của Nhà nước, không can thiệp trực tiếp vào việc quản trị hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp; đảm bảo cho doanh nghiệp được quyền chủ động trong chiến lược sản xuất, kinh doanh”. Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu vốn thông qua thiết chế cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn; thực hiện quyền được thông tin, báo cáo về tình hình vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Hai là, Nhà nước cần ban hành khuôn khổ pháp lý đồng bộ, trong đó, cần quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của chủ sở hữu vốn nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước và của doanh nghiệp trong việc quyết định đầu tư, mua sắm tài sản, đầu tư tài chính; xác định rõ mục tiêu, yêu cầu, hình thức và nguyên tắc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; xác định rõ thẩm quyền, trình tự, thủ tục đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; ban hành các tiêu chí rõ ràng, cụ thể, đo lường được để đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Ba là, về đầu tư vốn nhà nước, Nhà nước chỉ đầu tư vốn vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, quan trọng, phù hợp với định hướng phát triển bền vững của đất nước; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư và những lĩnh vực ngành nghề ưu tiên của đất nước hiện nay và trong thời gian tới (như năng lượng tái tạo, công nghiệp công nghệ cao, kết cấu hạ tầng quan trọng của quốc gia, ...). Kiên quyết cổ phần hóa, thoái vốn các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần thiết phải đầu tư để tập trung nguồn lực đầu tư cho một số DNNN có quy mô lớn, có hiệu quả kinh tế để thực hiện vai trò mở đường, dẫn dắt khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư phát triển trong các ngành, lĩnh vực quan trọng.

Bốn là, tái cơ cấu toàn diện SCIC theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW. Việc tái cơ cấu SCIC cần được thực hiện trên cơ sở xác định rõ chức năng, mục tiêu và phạm vi hoạt động. Theo đó, SCIC không chỉ là tổ chức đầu mối tiếp nhận, quản lý và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp mà cần từng bước chuyển sang mô hình quản trị danh mục vốn theo mục tiêu đầu tư, chủ động lựa chọn các lĩnh vực, doanh nghiệp và dự án có tiềm năng tạo ra giá trị gia tăng cao, có khả năng thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất.

Hoạt động đầu tư của SCIC cần được thực hiện theo nguyên tắc, tín hiệu thị trường, bảo đảm hiệu quả tài chính, đồng thời phù hợp với các mục tiêu chiến lược quốc gia. Bên cạnh đó, cũng cần có cơ chế giám sát độc lập đối với quá trình chuyển giao và quản lý vốn của SCIC tại các doanh nghiệp, bảo đảm việc cơ cấu lại doanh nghiệp, đầu tư vốn được thực hiện một cách hiệu quả, đúng giá thị trường và tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật.

TS. Lê Quang Thuận
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục