Thị trường hàng hóa thế giới tuần từ 12-19/9: Dầu thô hạ nhiệt, vàng lấy lại đà tăng, đồng bám sát kỷ lục

(ĐTCK)  Kết thúc tuần giao dịch từ 12-19/9, thị trường hàng hóa thế giới ghi nhận giá năng lượng, nông sản và nguyên liệu đồng loạt giảm khi giá dầu thô có dấu hiệu “hạ nhiệt” và điều kiện thời tiết thuận lợi. Trong khi đó, giá vàng lấy lại đà tăng và đồng tiếp tục bám sát mức kỷ lục.
Thị trường hàng hóa thế giới tuần từ 12-19/9: Dầu thô hạ nhiệt, vàng lấy lại đà tăng, đồng bám sát kỷ lục

Năng lượng: Dầu thô, khí gas, LNG và than cùng giảm nhẹ

Thị trường dầu mỏ tiếp tục biến động mạnh trong tuần qua. Giá dầu tăng mạnh trong 2 phiên đầu tuần do lo ngại các cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng của Ả Rập Xê-út có thể làm gián đoạn nguồn cung, trước khi đảo chiều giảm trong 3 phiên cuối tuần khi xuất hiện các phương án đưa dầu ra thị trường bằng những tuyến thay thế.

Cụ thể, ngày 14/9, dầu Brent tăng 1,07 USD (+1%) lên 105,68 USD/thùng, trong khi dầu WTI tăng 1,34 USD (+1,3%) lên 101,39 USD/thùng. Trong phiên, cả 2 hợp đồng có thời điểm tăng gần 5%. Tâm lý thị trường khi đó bị chi phối bởi vụ tấn công vào tuyến đường ống Đông - Tây của Ả Rập Xê-út, tuyến vận chuyển dầu tới cảng Yanbu bên Biển Đỏ mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào eo biển Hormuz. Thị trường lo ngại nếu sự cố kéo dài, nguồn cung bị ảnh hưởng có thể tương đương tới 4% sản lượng dầu toàn cầu.

Đến ngày 15/9, giá dầu lập đỉnh của tuần, dầu Brent tăng 3,07 USD (+2,9%) lên 108,75 USD/thùng, trong khi dầu WTI tăng tới 4,44 USD (+4,38%) lên 105,83 USD/thùng - đều ở mức cao nhất kể từ tháng 5/2026. Hoạt động bốc xếp dầu tại cảng Yanbu bị đình trệ, Ả Rập Xê-út hủy một số lô hàng dầu giao cho khách hàng châu Âu, trong khi Libya cũng ghi nhận gián đoạn tại một số mỏ dầu, làm gia tăng lo ngại nguồn cung khu vực có thể thiếu hụt trong nhiều tuần.

Tuy nhiên, từ ngày 16/9, thị trường bắt đầu đảo chiều. Dầu Brent giảm 2,92 USD (-2,7%) xuống 105,83 USD/thùng, còn dầu WTI giảm 3,4 USD (-3,2%) xuống 102,43 USD/thùng. Ả Rập Xê-út được cho là tìm cách đưa thêm dầu thô ra thị trường thông qua Oman, qua đó giảm bớt lượng dầu bị mắc kẹt do sự cố trên tuyến Đông - Tây. Số liệu tồn kho dầu thô của Mỹ cũng góp phần gây áp lực lên giá khi mức giảm thực tế nhỏ hơn dự kiến, cho thấy nguồn cung tại Mỹ vẫn tương đối ổn định.

Ngày 17/9, dầu Brent giảm tiếp 1,01 USD (-0,95%) xuống 104,82 USD/thùng, còn dầu WTI giảm 0,52 USD (-0,5%) xuống 101,91 USD/thùng. Ả Rập Xê-út được cho là đang tìm cách khôi phục khoảng một nửa công suất tuyến Đông - Tây trong vài ngày, trong khi các tuyến vận chuyển thay thế giúp giảm bớt lo ngại về thiếu hụt nghiêm trọng.

Đến phiên 18/9, dầu Brent giảm 0,95 USD (-0,93%) xuống 103,87 USD/thùng và giảm khoảng 0,8% trong tuần; dầu WTI giảm 1,61 USD (-1,58%) xuống 100,3 USD/thùng và giảm khoảng 1,1% cả tuần. Việc Trung Quốc, theo đề nghị của Ả Rập Xê-út, kêu gọi Iran hạn chế các cuộc tấn công của lực lượng Houthi nhằm vào cơ sở dầu mỏ Ả Rập Xê-út đã góp phần làm dịu lo ngại về nguy cơ gián đoạn nguồn cung. Tuy nhiên, mức giảm này không phản ánh hết mức độ biến động khi dầu Brent từng lên mức 108,75 USD/thùng và dầu WTI đạt 105,83 USD/thùng trong ngày 15/9.

Ở nhóm sản phẩm chưng cất và nhiên liệu thành phẩm, giá xăng lùi về mức 3,4566 USD/gallon trong phiên 18/9, giảm 1,45% so với ngày trước đó. Dù hạ nhiệt từ mức đỉnh 8 tuần, giá xăng hiện vẫn cao hơn 102,06% so với đầu năm và tăng 75,66% so với cùng kỳ năm trước. Giá dầu đốt giảm 0,99% xuống 5,0635 USD/gallon, nhưng vẫn tăng 138,65% tính từ đầu năm và tăng 120,24% so với cùng kỳ năm ngoái.

Đối với nhóm khí tự nhiên và nhiên liệu rắn, giá khí gas giảm 1,46% xuống 2,8586 USD/MMBtu, thấp hơn 22,45% so với đầu năm. Tại Mỹ, giá khí tự nhiên quay đầu giảm hơn 1% do dự báo thời tiết cho thấy đợt nóng trên mức trung bình sẽ thu hẹp phạm vi tại khu vực phía Nam và Đông Nam Mỹ từ ngày 22/9-1/10, qua đó làm giảm nhu cầu sử dụng điện cho điều hòa không khí. Sản lượng khai thác cao tiếp tục gây áp lực lên thị trường khí đốt Mỹ. Lưu lượng khí đến 9 cơ sở xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn của Mỹ giảm xuống mức thấp nhất 3 tuần, chủ yếu do công tác bảo dưỡng tại nhà máy Cameron LNG ở bang Louisiana.

Trong khi đó, giá than giao dịch ở mức 144,65 USD/tấn, giảm nhẹ 0,07% trong ngày nhưng tăng 34,56% từ đầu năm và tăng 39,96% so với cùng kỳ. Giá than duy trì quanh mức 145 USD/tấn, tiệm cận mức cao nhất 3 tháng. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), các gián đoạn do xung đột tại Trung Đông đẩy giá dầu và khí tự nhiên lên cao, thúc đẩy nhiều quốc gia chuyển hướng sang nhiệt điện than. Tại Trung Quốc, giá dầu tăng cao cũng thúc đẩy ngành công nghiệp hóa chất gia tăng sử dụng than. Sản lượng than toàn cầu được IEA dự báo sẽ sụt giảm trong năm 2026.

Kim loại: Vàng giảm tuần thứ ba liên tiếp; đồng bám sát mốc lịch sử; quặng sắt và thép diễn biến trái chiều

Ở nhóm kim loại quý, giá vàng cũng trải qua một tuần chia thành 2 nửa rõ rệt. Trong 3 phiên đầu tuần, vàng chịu sức ép từ lạm phát Mỹ cao hơn dự kiến, giá dầu tăng, đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng. Sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất, giá phục hồi trong 2 phiên cuối tuần khi giá dầu hạ nhiệt và USD suy yếu.

Cụ thể, ngày 14/9, vàng giao ngay có lúc giảm 1,8% về 4.271 USD/ounce, trong khi vàng tương lai giảm 2,2% về 4.311 USD/ounce - mức thấp nhất trong hơn 1 tháng. Giá dầu tăng mạnh làm gia tăng lo ngại lạm phát, đồng thời khiến thị trường gần như định giá đầy đủ khả năng Fed tăng lãi suất.

Ngày 15/9, vàng tiếp tục chịu sức ép khi USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2007. Dầu Brent khi đó vẫn trên 109 USD/thùng, làm gia tăng lo ngại lạm phát sẽ buộc Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt hơn.

Ngày 16/9, Fed tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm, đưa biên độ lãi suất liên bang lên 3,75-4%/năm. Đây là lần tăng lãi suất đầu tiên của Fed trong hơn 3 năm. Trước quyết định này, vàng đã giảm khoảng 1,8% trong 3 phiên liên tiếp và có thời điểm rơi xuống gần mức thấp nhất trong 6 tuần. Những tín hiệu tương đối cứng rắn về lạm phát và khả năng có thêm một lần tăng lãi suất trong năm tiếp tục gây áp lực lên kim loại quý.

Tuy nhiên, vàng nhanh chóng đảo chiều. Ngày 17/9, vàng giao ngay tăng 1,9% lên 4.346,62 USD/ounce, trong khi vàng tương lai ở quanh 4.385 USD/ounce. Đến ngày 18/9, vàng giao ngay tăng 0,9% lên 4.379,59 USD/ounce, còn vàng tương lai tăng 0,4% lên 4.417,84 USD/ounce. Tính chung cả tuần, vàng giao ngay tăng khoảng 01%, còn vàng tương lai tăng khoảng 0,2%.

Các kim loại quý khác cũng chịu sức ép trong nửa đầu tuần khi USD và lợi suất trái phiếu Mỹ tăng trước cuộc họp Fed, sau đó phục hồi khi giá dầu giảm và nhà đầu tư điều chỉnh các vị thế bán.

Trong phiên 18/9, bạc có mức tăng mạnh hơn vàng khi tăng 2,3% lên 66,70 USD/ounce, bạch kim tăng 2,2%, lên 1.812,50 USD/ounce, còn palladium tăng 1,5%, lên 1.310,20 USD/ounce. Các kim loại này đều tăng giá trong tuần.

Ở nhóm kim loại màu, đồng vẫn là mặt hàng nổi bật nhất. Đóng cửa phiên cuối tuần 18/9, giá đồng kỳ hạn 3 tháng trên sàn London (LME) đạt khoảng 14.515 USD/tấn, trong khi giá giao ngay đạt 14.529 USD/tấn. Tính cả tuần, giá đồng LME tăng khoảng 3,5%.

Theo Reuters, đồng tăng nhờ nhu cầu vật chất tại Trung Quốc cải thiện. Premium đồng Yangshan tăng lên 124 USD/tấn, mức cao nhất trong gần 4 năm. Dữ liệu tần suất cao cho thấy nhu cầu đồng, nhôm và thép dẹt tại Trung Quốc trong nửa đầu tháng 9 tăng khoảng 1-2% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, nguồn cung phế liệu đồng trong nước khan hiếm khiến một số nhà máy luyện đồng phải trì hoãn kế hoạch hoạt động trở lại sau bảo dưỡng.

Tồn kho đồng tại LME cuối tuần ở mức 255.100 tấn, tăng đáng kể so với đầu tuần, nhưng chưa đủ để đảo chiều tâm lý tích cực. Đồng đã có 4 phiên tăng liên tiếp tính đến ngày 18/9 và có lúc lên 14.572,50 USD/tấn - mức cao nhất kể từ ngày 10/9, cách không xa mức kỷ lục 14.875 USD/tấn.

Các kim loại công nghiệp khác trên sàn LME diễn biến phân hóa. Giá giao ngay ngày 18/9 đạt 3.285 USD/tấn đối với nhôm, 16.055 USD/tấn với nickel, 4.010 USD/tấn với kẽm, 1.868 USD/tấn với chì và 53.600 USD/tấn với thiếc.

Kẽm tăng từ 3.951 USD/tấn ngày 14/9 lên 4.010 USD/tấn ngày 18/9, tương đương tăng 1,5%, nhưng tồn kho LME cũng tăng từ 109.550 tấn lên 115.300 tấn. Trong phiên cuối tuần, nhôm giảm 0,4%, nickel giảm 0,1% và thiếc giảm 0,3%, trong khi kẽm tăng 0,2% và chì tăng 0,3%.

Ở nhóm kim loại đen, giá quặng sắt tăng trên các sàn trong phiên 18/9. Trên sàn Đại Liên (DCE), hợp đồng quặng sắt tháng 10/2026 tăng 2 CNY (+0,28%) lên 722 CNY/tấn. Trên sàn SGX (Singapore), hợp đồng quặng sắt cùng kỳ hạn tăng 0,9 USD (+0,93%) lên 97,25 USD/tấn.

Hợp đồng quặng sắt tháng 1/2027 giao dịch nhiều nhất trên sàn DCE tăng 0,7% lên 715,5 CNY (106,83 USD)/tấn, nhưng cả tuần vẫn giảm 0,6%. Hợp đồng quặng sắt chuẩn tháng 10/2026 trên SGX tăng 0,88% lên 97,2 USD/tấn và tăng 0,7% trong tuần.

Động lực hỗ trợ chính đến từ sản lượng gang của Trung Quốc. Theo Mysteel, sản lượng gang bình quân ngày tăng 0,6% so với tuần trước lên 2,38 triệu tấn tính đến ngày 17/9, mức cao nhất trong bốn tuần và cao hơn dự báo. Thị trường cũng kỳ vọng các nhà máy thép Trung Quốc tăng mua quặng trước kỳ nghỉ Quốc khánh.

Than luyện cốc và than cốc, hai nguyên liệu quan trọng khác của ngành thép, lần lượt giảm 7,78% và 5,45%, xuống mức thấp nhất 1 tháng. Trên sàn Thượng Hải (SHFE), giá thép thanh giảm 1,02%; thép cuộn cán nóng giảm 1,11%; trong khi thép không gỉ tăng 0,92%. Riêng giá thép thanh kỳ hạn tháng 10/2026 giảm 25 CNY (-0,81%) xuống 3.050 CNY/tấn.

Nông sản: Giá đồng loạt giảm

Thị trường nông sản nghiêng về xu hướng giảm trong tuần qua. Đóng cửa phiên 18/9, trên sàn Chicago (Mỹ), hợp đồng ngô tháng 12/2026 giảm 3 cent xuống 5,275 USD/bushel và ghi nhận tuần giảm thứ hai liên tiếp, tương tự là đậu tương tháng 11/2026 với mức giảm 16,25 cent về 13,035 USD/bushel. Lúa mì tháng 12/2026 giảm 12,75 cent xuống 7,1425 USD/bushel, đánh dấu tuần giảm thứ ba liên tiếp.

Triển vọng nguồn cung lớn của Mỹ trong thời điểm vụ thu hoạch bước vào giai đoạn cao điểm là nguyên nhân chính gây sức ép lên ngô và đậu tương. Giá dầu thô giảm trong nửa cuối tuần cũng làm giảm hỗ trợ đối với các mặt hàng liên quan đến nhiên liệu sinh học.

Doanh số xuất khẩu ngô của Mỹ trong tuần đạt khoảng 1,02 triệu tấn, chủ yếu từ Mexico và Nhật Bản, còn đậu tương đạt 1,7 triệu tấn, trong đó có đơn hàng 111.000 tấn của Trung Quốc. Trung Quốc cũng được cho là đã hoàn thành hơn một nửa cam kết mua 25 triệu tấn đậu tương Mỹ.

Nguyên liệu công nghiệp: Hầu hết giảm giá

Giá dầu cọ kỳ hạn Malaysia giảm trong phiên cuối tuần 18/9 do chịu sức ép từ các loại dầu ăn cạnh tranh trên sàn Đại Liên và Chicago, cũng như từ đà giảm của dầu thô.

Hợp đồng dầu cọ chuẩn giao tháng 12/2026 trên sàn Bursa Malaysia giảm 38 ringgit (-0,77%) xuống 4.898 ringgit (1.200,49 USD)/tấn. Tuy nhiên, tính chung cả tuần, hợp đồng này vẫn tăng 1,74%. Hợp đồng dầu đậu nành giao dịch sôi động nhất tại Đại Liên giảm 1,57%. Giá dầu đậu nành trên sàn Chicago cũng giảm 0,77%. Giá dầu thô giảm khiến dầu cọ trở nên kém hấp dẫn hơn đối với lĩnh vực nhiên liệu sinh học.

Giá đường thô tăng nhẹ 0,4% lên 17,49 cent/pound trong phiên 18/9, trước đó đã chạm 17,34 cent/pound - mức thấp nhất 3 tuần và cả tuần giảm 4,35%.

Giá dầu giảm khiến các nhà máy mía đường có thêm động lực dành mía cho sản xuất đường thay vì ethanol, qua đó làm tăng triển vọng nguồn cung. Dự báo mưa tại Brazil giảm trong khoảng 10 ngày tới cũng giúp giảm rủi ro đối với hoạt động ép mía. Trong khi đó, nhập khẩu đường của Trung Quốc tháng 8/2026 giảm 13,5% so với cùng kỳ năm trước, xuống 650.000 tấn.

Cà phê cũng trải qua một tuần kém tích cực. Arabica trên sàn ICE có thời điểm xuống mức thấp nhất trong 10 tuần. Ngày 17/9, cà phê Arabica giảm 0,7% về 2,817 USD/pound, sau khi chạm 2,812 USD/pound; trong khi cà phê Robusta giảm 1,8% xuống 3.418 USD/tấn. Ngày 18/9, cà phê Arabica phục hồi 0,6% lên 2,7825 USD/pound, nhưng vẫn ở gần vùng thấp nhất trong nhiều tháng. Tính cả tuần, giá cà phê giảm 1,82%.

Áp lực bán đến từ lượng cà phê xuất khẩu của Brazil tăng mạnh khi điều kiện thời tiết thuận lợi tại Brazil và Việt Nam. Trong 2 tuần đầu tháng 9/2026, xuất khẩu cà phê xanh của Brazil đạt bình quân khoảng 13.500 tấn/ngày, tăng 51,5% so với cùng kỳ năm trước.

Ca cao nằm trong nhóm giảm mạnh nhất. Ca cao New York giảm khoảng 4,9% xuống 5.603 USD/tấn, sau khi có thời điểm chạm 5.530 USD/tấn - mức thấp nhất khoảng 1,5 tháng. Ca cao London giảm 4,3% xuống 4.227 bảng Anh/tấn. Tính cả tuần, giá ca cao giảm khoảng 10,64%.

Thị trường chịu sức ép từ kỳ vọng dư cung trong mùa vụ mới và lo ngại giá cao trước đó đã làm giảm nhu cầu trong quý III/2026. Tại Bờ Biển Ngà, lượng ca cao đưa về các cảng từ khi mùa vụ mới bắt đầu từ ngày 1-13/9 đạt 26.000 tấn.

Hợp đồng bông tháng 12/2026 giảm 1,02 cent về 81,15 cent/pound trong phiên 18/9 và giảm khoảng 4,91 cent (-5,71%) cả tuần. Doanh số xuất khẩu mới của Mỹ khá yếu khi lượng bông bán cho niên vụ 2026-2027 chỉ đạt 71.231 kiện, trong đó Việt Nam là khách hàng lớn nhất với 28.200 kiện. Lượng bông đã giao đạt 142.078 kiện, tăng 17,91% so với cùng kỳ năm trước.

Giá dầu giảm và đồng USD có dấu hiệu tăng trở lại cũng tạo thêm áp lực lên thị trường bông.

Giá cao su kỳ hạn tháng 10/2026 trên sàn Osaka (OSE) tăng nhẹ 1,3 JPY (+ 0,29%) lên 454,7 JPY/kg. Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu cao su RSS3 (FOB Laem Chabang) giảm 0,05 baht xuống 91,12 baht/kg. Trên sàn SHFE, giá cao su kỳ hạn tháng 10/2026 giảm 215 CNY (1,19%) xuống 17.880 CNY/tấn. Trên nền tảng SICOM của SGX, hợp đồng cao su tháng 12/2026 giao dịch gần nhất ở mức 235,9 US cent/kg, giảm 0,6%.

Hợp đồng tương lai cao su tháng 2/2027 trên sàn OSE giảm 1,8 JPY (- 0,42%) xuống 426,1 JPY (2,73 USD)/kg và giảm 1,14% trong tuần. Hợp đồng tương lai cao su tháng 1/2027 trên sàn SHFE giảm 175 CNY (-0,92%) xuống 18.745 CNY (2.798,39 USD)/tấn. Cao su butadien giao tháng 10/2026 giảm 275 CNY (-1,84%) xuống 14.690 CNY/tấn.

Giá cao su chịu ảnh hưởng từ đà giảm của dầu thô bởi cao su tự nhiên phải cạnh tranh với cao su tổng hợp, sản phẩm được sản xuất từ dầu mỏ. Tuy nhiên, nguồn cung vật chất tại Thái Lan vẫn tạo lực đỡ khi các nhà máy chế biến thượng nguồn duy trì tồn kho thấp và có nhu cầu bổ sung nguyên liệu.

(Nguồn: Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam, Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại, Thời báo Tài chính Việt Nam, Tạp chí Doanh nghiệp và Hội nhập)

(1 bushel lúa mỳ/đậu tương = 27,2 kg; 1 bushel ngô = 25,4 kg).

(USD Cent/lb | 1USD = 100cent | 1lb ~ 0,45Kg | Đơn vị giao dịch: lot, 1 lot = 10 tấn).

N.Tùng

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục