Nguồn cung LNG thắt chặt châm ngòi cuộc cạnh tranh mua trên toàn cầu

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Việc đột ngột ngừng xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) từ Qatar - nhà xuất khẩu lớn thứ hai thế giới vào năm 2025 - đã khiến giá khí đốt tự nhiên tăng vọt 50% so với cùng kỳ năm ngoái trên khắp châu Âu và châu Á, đồng thời khiến người mua hoảng loạn tìm kiếm các lô hàng thay thế.
Nguồn cung LNG thắt chặt châm ngòi cuộc cạnh tranh mua trên toàn cầu

Các nhà phân tích cho rằng thị trường đang phản ứng trước khả năng dòng chảy qua eo biển Hormuz bị gián đoạn. Tuyến đường thủy này xử lý khoảng 20% ​​nguồn cung LNG toàn cầu, với phần lớn hàng xuất khẩu của Qatar đi qua tuyến đường này.

Nhưng tình trạng thiếu tàu vận chuyển sẵn có cùng công suất hóa lỏng dự phòng hạn chế đang làm giảm số lượng lô LNG có thể giao ngay cho cả hai khu vực, và nhiều khả năng sẽ khiến giá khí đốt duy trì ở mức cao trong một thời gian.

Tuy vậy, các nhà xuất khẩu LNG lớn ngoài khu vực Trung Đông đang chuyển hướng tối đa các lô hàng có thể tới những thị trường đang thiếu hụt, khi mức chênh lệch ngày càng lớn giữa giá khí đốt tại châu Á và châu Âu so với giá nội địa tạo ra tiềm năng lợi nhuận rất hấp dẫn.

Châu Âu đang bước vào giai đoạn khó khăn này với lượng dự trữ khí đốt dưới 25% vào cuối mùa đông, mức thấp nhất theo mùa trong nhiều năm. Điều đó khiến người mua ở châu Âu dễ bị tổn thương trước những gián đoạn nguồn cung và có khả năng cạnh tranh gay gắt để giành lấy các lô hàng hiện có.

Đồng thời, các nhà nhập khẩu châu Á - bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) và Ấn Độ - cũng sẽ buộc phải thay thế nguồn cung từ Trung Đông nếu các chuyến hàng qua eo biển Hormuz bị gián đoạn.

Điều này có thể châm ngòi cho cuộc cạnh tranh mua LNG trên phạm vi toàn cầu khi số lượng các lô hàng chưa được cam kết theo hợp đồng ngày càng thu hẹp, qua đó đẩy giá khí tự nhiên tăng cao ở cả thị trường Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.

Yousef Alshammari, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Kinh tế Năng lượng London cho biết, cuộc khủng hoảng xảy ra vào thời điểm thị trường năng lượng vốn đã phải chật vật với nguồn cung khan hiếm, giá cả biến động và nhu cầu thay đổi.

Trong khi phần lớn sự chú ý tập trung vào eo biển Hormuz, ông cho rằng thị trường khí đốt đang phản ứng mạnh hơn so với thị trường dầu mỏ. “Những gì chúng ta thấy là giá khí đốt đã tăng khoảng 50%”, ông cho biết.

Các nhà xuất khẩu khí đốt hưởng lợi

Các nhà xuất khẩu tại Mỹ có thể đang có vị thế tốt nhất để tận dụng các cơ hội chuyển hướng vận chuyển, vì đây là nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới và có khối lượng công suất chưa được công bố lớn nhất sẵn sàng cho vận chuyển giao ngay.

Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu ở Úc, Nga, Malaysia và Nigeria - những nhà vận chuyển LNG lớn tiếp theo - cũng có thể sẽ điều chỉnh lịch trình và địa điểm giao hàng sau đợt tăng mạnh giá khí đốt tự nhiên ở châu Á và châu Âu.

Theo dữ liệu từ LSEG, hợp đồng kỳ hạn LNG giao đến các thị trường trọng điểm ở châu Á hiện đang ở mức trung bình khoảng 12,95 USD/triệu đơn vị nhiệt Anh (MMBtu) cho cả năm 2026. Thị trường kỳ hạn cho thấy giá xuất khẩu LNG của Mỹ sang cả châu Á và châu Âu sẽ đạt mức cao nhất kể từ năm 2022 trong năm nay. Điều này đánh dấu mức tăng 53% so với mức trung bình năm 2025 và sẽ là mức trung bình hàng năm cao nhất kể từ năm 2022.

Tại châu Âu, hợp đồng tương lai khí đốt TTF cho năm 2026 hiện ở mức trung bình khoảng 12,41 USD/MMBtu, đánh dấu mức tăng 49% so với mức trung bình năm 2025.

Theo LSEG, các nhà xuất khẩu khí đốt tại Mỹ được dự báo sẽ đối mặt với chi phí khí tự nhiên trung bình khoảng 3,63 USD/MMBtu trong năm 2026, và do đó có thể thu được lợi nhuận hơn 200% ngay cả sau khi tính đến chi phí hóa lỏng và vận chuyển đến châu Âu hoặc châu Á.

Đối với các nhà xuất khẩu ở những thị trường khác, miễn là chi phí khí đốt của châu Âu và châu Á vẫn gần với mức hiện tại, tất cả các nhà xuất khẩu LNG đều có tiềm năng lợi nhuận lịch sử nếu họ có thể chuyển hướng hiệu quả các lô hàng sang các thị trường đó.

Theo dõi dòng chảy thương mại

Các nhà phân tích LNG đang theo dõi sát sao các mô hình vận chuyển từ các nhà xuất khẩu lớn để tìm dấu hiệu chuyển hướng đột ngột.

Mỹ đã xuất khẩu 68% lượng LNG sang châu Âu vào năm 2025 và dự kiến ​​sẽ tiếp tục ưu tiên châu Âu hơn các khu vực khác do chi phí vận chuyển đến châu Âu tương đối thấp. Tuy nhiên, lịch bốc hàng trong ba tháng đầu năm nay cho thấy các nhà xuất khẩu tại Mỹ đã tăng lượng LNG vận chuyển tới khách hàng ở châu Á gần 20% so với cùng kỳ năm 2025.

Theo dữ liệu từ Kpler, khối lượng LNG từ Mỹ hướng tới châu Á trong quý I/2026 ước đạt khoảng 3,75 triệu tấn, so với 3,16 triệu tấn trong cùng kỳ năm 2025. Lượng hàng vận chuyển từ Mỹ sang châu Âu từ tháng 1 đến tháng 3 ước tính đạt 22,7 triệu tấn, so với 19,8 triệu tấn trong cùng kỳ năm ngoái.

Trong bối cảnh người mua tại châu Á và châu Âu được dự báo vẫn sẽ tích cực cạnh tranh mua LNG trong ngắn đến trung hạn, doanh số LNG từ Mỹ sang cả hai khu vực này nhiều khả năng sẽ tiếp tục tăng.

Trái lại, phần lớn các lô hàng từ các nhà xuất khẩu LNG của Úc vẫn hướng tới khách hàng tại châu Á, với khu vực này chiếm hơn 95% tổng lượng xuất khẩu của Úc trong năm ngoái.

Trong khi đó, thời gian vận chuyển tương đối ngắn đến các nước như Trung Quốc và Nhật Bản so với hàng hóa vận chuyển từ Mỹ cũng đồng nghĩa với việc Úc duy trì lợi thế về chi phí đối với người mua ở châu Á, cũng như mối quan hệ rộng rãi hơn với người mua trong khu vực.

Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu LNG của Úc đã cam kết gần như toàn bộ nguồn cung dự kiến cho các khách hàng theo hợp đồng dài hạn, vì vậy khả năng chuyển hướng các lô hàng sang thị trường giao ngay có thể khá hạn chế.

Ngoài Mỹ và Úc, các nhà xuất khẩu khác dự kiến ​​sẽ cạnh tranh để giành lấy nhu cầu thị trường giao ngay cao hơn vào năm 2026.

Điều này có thể tạo ra cơ hội cho các nhà xuất khẩu khác bao gồm Nga, Malaysia và Nigeria, những quốc gia đã thiết lập các tuyến đường thương mại LNG toàn cầu và có vị thế tốt để cạnh tranh hơn nữa với các đối thủ xuất khẩu lớn hơn trong tương lai.

Hạc Hiên
Theo báo chí nước ngoài

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục