Ngành ngân hàng 2026: Ai nắm lợi thế chiến lược?

(ĐTCK)  Nếu thị trường tài sản mã hóa đang mở ra không gian tăng trưởng mới cho một số ngân hàng thì ở lĩnh vực truyền thống, động lực tăng trưởng quan trọng nhất đến từ chu kỳ đầu tư hạ tầng, cơ chế phân bổ tín dụng có chọn lọc và tín hiệu tháo gỡ nút thắt vốn tự có.
Các ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối có lợi thế trong tham gia tài trợ, thu xếp vốn cho các dự án hạ tầng

Không gian mới không dành cho số đông

Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết 05/2025/NQ-CP về thí điểm thị trường tài sản mã hóa (có hiệu lực từ ngày 9/9/2025) đã chính thức đưa lĩnh vực còn mới mẻ này vào quỹ đạo quản lý. Theo ước tính, giá trị giao dịch tiền mã hóa của nhà đầu tư Việt Nam trong 12 tháng gần nhất lên tới 220 tỷ USD, phần lớn thực hiện trên các sàn nước ngoài. Khi khuôn khổ pháp lý trong nước hình thành, dòng tiền này có khả năng được giữ lại trong hệ thống tài chính nội địa, tạo nguồn thu lớn từ phí giao dịch, lưu ký, thanh toán và các dịch vụ đi kèm cho các tổ chức trung gian.

Tuy vậy, điều kiện để mở sàn giao dịch tài sản mã hóa là doanh nghiệp phải có vốn điều lệ tối thiểu 10.000 tỷ đồng, tỷ lệ sở hữu chi phối của cổ đông tổ chức và sự hiện diện bắt buộc của ít nhất hai định chế tài chính hoặc doanh nghiệp công nghệ trong cơ cấu vốn.

Với “hàng rào” như vậy, đây rõ ràng không phải “sân chơi” đại trà. Thị trường thí điểm giao dịch tài sản mã hóa gần như được thiết kế cho các hệ sinh thái tài chính lớn, có năng lực vốn, công nghệ và quản trị rủi ro ở mức cao.

Cuối tuần qua, Công ty cổ phần Sàn giao dịch tài sản mã hóa Việt Nam Thịnh Vượng (CAEX) - thành viên trong hệ sinh thái VPBank đã thông báo sẵn sàng đáp ứng điều kiện thí điểm. Doanh nghiệp này có sự tham gia của Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS) và LynkiD, đồng thời đang hoàn tất kế hoạch tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng, đúng ngưỡng tối thiểu theo quy định. Việc chủ động nâng vốn ngay từ đầu cho thấy đây không phải bước đi thăm dò, mà là lựa chọn chiến lược nhằm chiếm vị thế tiên phong.

Hệ sinh thái Techcombank cũng tăng tốc đáng kể trong lộ trình gia nhập thị trường tài sản mã hóa. TCEX - doanh nghiệp được thành lập vào tháng 5/2025 - chỉ trong vài tháng đã đổi tên, hoàn thiện pháp lý và tăng vốn điều lệ từ 3 tỷ đồng lên 101 tỷ đồng. Theo lãnh đạo Công ty Chứng khoán Techcombank, hồ sơ xin cấp phép lập sàn giao dịch tài sản mã hóa đã được nộp và hệ thống công nghệ, quy trình vận hành được chuẩn bị từ trước đó. Tốc độ hoàn thiện pháp lý và cấu trúc vốn phản ánh quyết tâm tham gia sớm, thay vì chờ đợi thị trường định hình rõ ràng hơn của hệ sinh thái Techcombank.

MB lại có hướng đi khác. Biên bản ghi nhớ ký kết với Tập đoàn Dunamu (Hàn Quốc), đơn vị vận hành sàn tiền ảo Upbit, cho thấy ngân hàng này ưu tiên tận dụng kinh nghiệm và công nghệ sẵn có từ thị trường phát triển, thay vì tự xây dựng từ đầu. Cách tiếp cận này sẽ giúp MB rút ngắn thời gian triển khai thành lập sàn giao dịch tài sản mã hóa, đồng thời giảm rủi ro vận hành trong giai đoạn đầu.

Việc tham gia thị trường tài sản mã hóa chưa chắc tạo động lực tăng trưởng lợi nhuận trong ngắn hạn cho các ngân hàng, song điều quan trọng là phản ánh khả năng thích ứng của từng ngân hàng trước một không gian tăng trưởng mới. Những tổ chức có hệ sinh thái tài chính, chứng khoán, quản lý quỹ hoàn chỉnh, nền tảng vốn mạnh và đầu tư sớm cho công nghệ sẽ có lợi thế rõ rệt khi gia nhập thị trường. Ngược lại, nhóm vốn mỏng hoặc thiếu liên kết hệ sinh thái gần như đứng ngoài cuộc ngay từ vòng điều kiện.

Đầu tư hạ tầng bùng nổ: Khối quốc doanh rộng cửa tăng trưởng

Bước sang năm 2026, định hướng điều hành vĩ mô cho thấy chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục theo hướng linh hoạt nhưng thận trọng. Thông điệp từ Chính phủ là không nới lỏng đại trà, mà mở rộng tín dụng có chọn lọc, gắn với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và định hướng dòng vốn vào các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Trong kịch bản cơ sở, tăng trưởng tín dụng toàn ngành dự kiến quanh mức 15 - 16%, tương đương mục tiêu năm trước và có thể điều chỉnh theo diễn biến thực tế. Tuy nhiên, điểm mấu chốt không nằm ở con số tổng, mà ở cách phân bổ. Room tín dụng nhiều khả năng tiếp tục phân hóa theo chất lượng vốn và vai trò của từng nhóm ngân hàng trong chiến lược phát triển kinh tế.

Nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có vốn Nhà nước được kỳ vọng có dư địa tăng trưởng tích cực hơn sau một năm tương đối thận trọng. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém có thể tiếp tục được ưu tiên hạn mức tăng trưởng tín dụng cao nhằm hỗ trợ quá trình tái cơ cấu. Ngược lại, các ngân hàng quy mô nhỏ, vốn mỏng hoặc chịu áp lực chất lượng tài sản sẽ khó được giao mức tăng trưởng đột biến. Sự phân tầng này tạo khác biệt trực tiếp về khả năng mở rộng quy mô và bứt phá lợi nhuận.

Ở phía cầu vốn, động lực lớn nhất của năm 2026 đến từ chu kỳ đầu tư hạ tầng quy mô lớn. Mục tiêu đầu tư khoảng 266 tỷ USD cho phát triển hạ tầng đến năm 2030 - tập trung vào các dự án đường bộ cao tốc, đường sắt tốc độ cao, năng lượng - đặt lên vai hệ thống ngân hàng nhiệm vụ lớn trong cung ứng vốn, khi ngân sách Nhà nước dự kiến đáp ứng khoảng 70% tổng nhu cầu đầu tư.

Diễn biến thực tế cho thấy nhịp độ triển khai các dự án đầu tư hạ tầng đã tăng tốc. Việc đồng loạt khởi công, khánh thành 234 dự án vào cuối năm 2025 với tổng mức đầu tư lên tới 3,4 triệu tỷ đồng, trong đó 82% vốn từ khu vực ngoài Nhà nước, phản ánh quy mô dòng vốn đầu tư đang dịch chuyển mạnh vào lĩnh vực hạ tầng. Đây không chỉ là câu chuyện đầu tư công, mà là chu kỳ vốn tổng lực, kéo theo nhu cầu tài trợ trung - dài hạn, thu xếp hợp vốn và bảo lãnh thanh toán.

Trong cấu trúc đó, lợi thế cung ứng vốn đang nghiêng về các ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn, khả năng huy động vốn dài hạn và kinh nghiệm tài trợ dự án. Nhóm ngân hàng quốc doanh, với mạng lưới rộng và quan hệ truyền thống với các chủ đầu tư lớn, nhiều khả năng tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong các khoản tín dụng nền tảng. Đồng thời, những ngân hàng có quan hệ sâu với các tổ chức tài chính quốc tế, từng tham gia các thương vụ hợp vốn lớn sẽ có thêm cơ hội mở rộng thị phần trong mảng thu xếp vốn.

Yếu tố có thể làm thay đổi đáng kể tương quan sức mạnh giữa các nhóm ngân hàng là câu chuyện vốn tự có. Tín hiệu ưu tiên tăng vốn điều lệ từ nguồn lợi nhuận để lại cho khối ngân hàng thương mại Nhà nước cho thấy quyết tâm xử lý “điểm nghẽn” kéo dài nhiều năm. Khi được giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư, các ngân hàng không chỉ cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR), mà còn mở rộng được hạn mức tín dụng trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng và khu vực tư nhân tăng mạnh.

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước và Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam diễn ra sáng 25/2/2026, bên cạnh các giải pháp phát triển kinh tế nhà nước, tín hiệu tháo gỡ “điểm nghẽn” tăng vốn cho ngân hàng quốc doanh đã được Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Hòa Bình nhấn mạnh. Cụ thể là ưu tiên tăng vốn điều lệ từ nguồn lợi nhuận để lại nhằm bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cho các ngân hàng.

Việc củng cố nền tảng vốn cũng có ý nghĩa vượt ra ngoài tăng trưởng ngắn hạn. CAR được cải thiện giúp ngân hàng nâng cao khả năng chống chịu rủi ro, cải thiện xếp hạng tín nhiệm và tăng sức hấp dẫn với nhà đầu tư quốc tế. Trong một chu kỳ đầu tư dài và cường độ vốn lớn, sức mạnh bảng cân đối kế toán trở thành lợi thế chiến lược.

Tổng hòa các yếu tố trên cho thấy năm 2026 nhiều khả năng là giai đoạn ưu thế nghiêng về nhóm ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước và các ngân hàng có nền tảng vốn vững, năng lực tài trợ dự án lớn và quan hệ quốc tế sâu rộng. Trong khi đó, các ngân hàng quy mô nhỏ hơn sẽ phải thận trọng hơn, tối ưu hiệu quả sử dụng vốn, thay vì mở rộng quy mô bằng mọi giá.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục