Cạnh tranh trong ngành ngân hàng đi vào chiều sâu

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Khi tín dụng không còn là “đòn bẩy dễ dãi”, chi phí vốn duy trì ở mặt bằng cao và thanh khoản mang tính chu kỳ trở nên nhạy cảm hơn, lợi nhuận không còn được quyết định bởi tốc độ tăng trưởng quy mô đơn thuần.
Khả năng kiểm soát NIM, chất lượng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn sẽ là những yếu tố phân định các ngân hàng trong cuộc đua dài hơi Khả năng kiểm soát NIM, chất lượng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn sẽ là những yếu tố phân định các ngân hàng trong cuộc đua dài hơi

Tăng trưởng có đang đổi rủi ro?

VPBank vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 với lợi nhuận trước thuế hợp nhất cao nhất lịch sử, đạt hơn 30.600 tỷ đồng, tăng 53% so với năm 2024 và hoàn thành 121% kế hoạch đề ra. Tại thời điểm cuối năm 2025, dư nợ tín dụng hợp nhất của VPBank tăng gần 33% so với cuối năm 2024, đạt khoảng 950.000 tỷ đồng, cho thấy kết quả lợi nhuận kỷ lục được xây dựng trên nền tảng tăng trưởng tín dụng rất mạnh. Tuy nhiên, song hành với bức tranh lợi nhuận ấn tượng, báo cáo tài chính cũng ghi nhận xu hướng gia tăng của nợ xấu.

Trong năm 2025, dù tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3 - 5) của VPBank được duy trì quanh mức hơn 4%, không biến động mạnh so với năm trước đó, nhưng giá trị tuyệt đối của nợ xấu vẫn tăng lên cùng với tốc độ mở rộng dư nợ. Đáng chú ý, nợ nhóm 2 - nhóm nợ cần chú ý, đóng vai trò như “vùng đệm rủi ro” - ở mức xấp xỉ 31.000 tỷ đồng và vẫn chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng dư nợ. Điều này cho thấy khả năng phát sinh nợ xấu mới trong các kỳ tiếp theo nếu điều kiện kinh tế hoặc dòng tiền khách hàng diễn biến bất lợi.

Thực tế này phần nào phản ánh định hướng ưu tiên tăng trưởng và biên lãi ròng (NIM), đồng thời chấp nhận mức rủi ro nhất định trong kiểm soát chất lượng tín dụng của nhà băng này. Được biết, NIM của VPBank đạt 5,49% trong năm 2025. Dù vẫn cao hơn so với nhiều ngân hàng khác trong hệ thống, VPBank lại nằm trong xu hướng NIM suy giảm - khi năm 2024 ngân hàng này từng là một trong những đơn vị dẫn đầu với NIM đạt 5,85%.

Ở chiều ngược lại, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của VPBank đã được cải thiện, song chỉ ở mức hơn 55% - mức trung bình so với mặt bằng các ngân hàng thương mại lớn. Có thể lý giải đây là sự lựa chọn mang tính chiến lược, chấp nhận mức rủi ro cao hơn nhằm theo đuổi mục tiêu tăng trưởng quy mô và biên lợi nhuận.

Câu chuyện tương tự phần nào cũng diễn ra tại LPBank. Năm 2025, ngân hàng này ghi nhận lợi nhuận trước thuế 14.269 tỷ đồng, tăng 17% so với năm 2024 và hoàn thành khoảng 95% mục tiêu đề ra. Kết quả kinh doanh khởi sắc trên nền tăng trưởng tín dụng tích cực, ở mức trên 18%, song đi kèm là áp lực suy giảm NIM, khi biên lãi thuần lần đầu tiên trong nhiều năm giảm xuống dưới 3% - chịu tác động đồng thời từ lợi suất tài sản và chi phí vốn.

Tương đồng với xu hướng chung của nhiều ngân hàng trong hệ thống, định hướng tín dụng của LPBank cho thấy sự tập trung nhiều hơn vào các lĩnh vực có lợi suất tài sản tương đối cao trong bối cảnh NIM chịu áp lực từ đà tăng chi phí vốn. Ước tính, NIM năm 2025 của LPBank đã giảm xuống 2,92%, từ mức 3,52% của năm 2024. NIM suy giảm mạnh một phần đến từ việc chi phí vốn huy động của LPBank trong những quý gần đây duy trì ở mức 4,6 - 4,7%/năm, cao hơn một số ngân hàng có quy mô vốn điều lệ tương đồng. Bên cạnh đó, tỷ lệ CASA ở mức thấp so với toàn ngành tiếp tục gia tăng áp lực lên chi phí vốn. Tính đến hết quý IV/2025, CASA của LPBank chỉ chiếm khoảng 8,5% trong tổng vốn huy động, đi lùi so với mức gần 10% vào thời điểm cuối năm 2024.

Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu của LPBank tính đến ngày 31/12/2025 ở mức 1,68%, tăng so với mức 1,51% hồi đầu năm ngoái, nhưng vẫn nằm trong nhóm ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp trong ngành. Tuy nhiên, nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn - đã tăng 76% trong năm qua, lên hơn 4.200 tỷ đồng vào cuối năm do diễn biến chuyển nhóm nợ. Đồng thời, việc nợ nhóm 2 có dấu hiệu gia tăng, đạt trên 3.800 tỷ đồng, cũng làm gia tăng rủi ro hình thành nợ xấu mới trong các quý tiếp theo.

Khi chi phí “ăn” vào lợi nhuận

Thực tế, nhiều ngân hàng trong hệ thống vẫn chưa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 nên bức tranh lợi nhuận toàn ngành ở thời điểm hiện tại vẫn là những mảnh ghép chưa hoàn chỉnh. Dẫu vậy, vấn đề đặt ra không chỉ nằm ở kết quả của một vài ngân hàng riêng lẻ, mà là liệu cuộc đua lợi nhuận của toàn hệ thống trong giai đoạn tới sẽ nghiêng nhiều hơn về tăng trưởng quy mô, hay đang bước sang giai đoạn buộc phải tái cân bằng giữa chất và lượng.

Nếu như các trường hợp riêng lẻ cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang được thúc đẩy mạnh bởi tăng trưởng tín dụng thì ở bình diện toàn hệ thống, nền tảng để tạo ra tăng trưởng đó lại chịu áp lực ngày càng rõ nét từ thanh khoản và chi phí vốn. Trao đổi với Báo Đầu tư Chứng khoán, bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Nghiên cứu MBS cho biết, đến cuối tháng 12/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 19% so với cuối năm 2024, qua đó, gây áp lực đáng kể lên thanh khoản. Trong bối cảnh này, lãi suất qua đêm liên ngân hàng ngay từ đầu tháng 12/2025 đã liên tục neo quanh ngưỡng 7 - 7,5%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước phải kích hoạt công cụ can thiệp mới là FX Swap, đồng thời duy trì trạng thái bơm ròng thanh khoản qua kênh OMO với trị giá hơn 78.500 tỷ đồng trong kỳ.

Sau các nỗ lực can thiệp của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất qua đêm đã chạm đáy 6 tháng tại 1,8%/năm vào ngày 30/12/2025. Tuy nhiên, đến phiên 31/12/2025, lãi suất qua đêm đã nhanh chóng tăng lên mức cao nhất từ trước tới nay, đạt 8,45%/năm. Đến giữa tháng 1/2026, lãi suất qua đêm đã hạ nhiệt, dao động quanh mức 4%/năm, mặc dù Ngân hàng Nhà nước liên tiếp duy trì hút ròng thanh khoản trong nửa đầu tháng với trị giá lên đến hơn 94.000 tỷ đồng. Trong khi đó, các kỳ hạn từ 1 tuần đến 1 tháng dao động trong khoảng 4,5 - 7,4%/năm, còn lãi suất kỳ hạn 6 tháng vẫn neo ở mức cao tại 7,4%/năm.

Những biến động mạnh và mang tính đảo chiều nhanh của lãi suất liên ngân hàng cho thấy trạng thái thanh khoản của hệ thống chưa thực sự ổn định, đặc biệt trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh theo chu kỳ cuối năm. Áp lực này tiếp tục lan sang thị trường huy động, khi nhiều ngân hàng phải điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi nhằm đáp ứng nhu cầu vốn, qua đó trực tiếp thu hẹp dư địa NIM.

Theo bà Hiền, trong số 18 ngân hàng được MBS theo dõi, có tới 14 ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi ở tất cả các kỳ hạn trong tháng cuối năm 2025. Đến cuối kỳ, lãi suất tiền gửi dưới 12 tháng cao nhất đã lên mức 6,4%/năm, tăng 0,9 điểm phần trăm so với đầu năm. Việc mặt bằng lãi suất tiền gửi tiếp tục tăng mạnh phản ánh rõ nhu cầu huy động vốn gia tăng nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng thường tăng cao về cuối năm theo tính chu kỳ. Theo đó, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng bình quân của các ngân hàng thương mại đến cuối năm 2025 đã lên mức 5,7%/năm

Đà tăng này chưa dừng lại khi bước sang năm 2026. Chỉ trong hai tuần đầu năm, có thêm 5 ngân hàng tiếp tục nâng lãi suất huy động ở hầu hết các kỳ hạn, với mức tăng từ 0,1 - 0,6%/năm. Theo đó, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng bình quân của nhóm ngân hàng Tier 1 đến giữa tháng 1/2026 tăng 0,9%/năm so với cuối năm 2025, lên mức 5,69%/năm; trong khi nhóm ngân hàng Tier 2 tăng 0,05%/năm, lên mức 5,87%/năm. Diễn biến này đã kéo mặt bằng lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng bình quân của toàn hệ thống ngân hàng thương mại lên khoảng 5,8%/năm.

Tựu trung lại, bức tranh lợi nhuận ngân hàng giai đoạn hiện nay đang bước vào ngã rẽ quan trọng. Khi tín dụng không còn là “đòn bẩy dễ dãi”, chi phí vốn duy trì ở mặt bằng cao và thanh khoản mang tính chu kỳ trở nên nhạy cảm hơn, lợi nhuận không còn được quyết định bởi tốc độ tăng trưởng quy mô đơn thuần. Thay vào đó, khả năng kiểm soát NIM, chất lượng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn sẽ là những yếu tố phân định rõ ràng giữa các ngân hàng trong cuộc đua dài hơi. Cuộc cạnh tranh lợi nhuận, vì thế, đang dịch chuyển từ lượng sang chất, nơi tăng trưởng nhanh chưa chắc đã là lợi thế, nếu không đi kèm nền tảng bền vững.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục