Mở rộng kênh vốn cho nhu cầu tăng trưởng
Từ đầu tháng 7/2026 đến nay, một loạt ngân hàng đã thành công trong huy động nguồn vốn lớn từ thị trường quốc tế.
Cụ thể, HDBank vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức khoản vay xã hội trị giá 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế. Cũng trong tháng 7, Ngân hàng TMCP SeABank được OPEC Fund cung cấp khoản vay 50 triệu USD để mở rộng tài trợ doanh nghiệp nhỏ, dự án năng lượng xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam. VietABank cũng đang xúc tiến hai khoản vay tổng giá trị 35 triệu USD từ Quỹ Hợp tác khí hậu Toàn cầu (GCPF) và Quỹ Đầu tư Thụy Sỹ.
Hồi cuối tháng 6/2026, VPBank cũng ký kết khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỷ USD (gần 38.000 tỷ đồng) với sự tham gia của 15 định chế tài chính quốc tế, cao hơn mức dự kiến thu xếp ban đầu là 1,2 tỷ USD. Khoản vay sẽ tập trung vào mở rộng tín dụng cho lĩnh vực xanh và xã hội. Trước đó, năm 2025, VPBank cũng huy động thành công 2,36 tỷ USD trên thị trường quốc tế (gồm khoản vay hợp vốn quốc tế với quy mô kỷ lục 1,56 tỷ USD và phát hành thành công 300 triệu USD trái phiếu bền vững).
Như vậy, từ đầu năm đến nay, các ngân hàng trong nước đã tiếp cận hàng tỷ USD từ thị trường quốc tế, chủ yếu rót vào lĩnh vực tăng trưởng xanh, bền vững.
Áp lực vốn cho tăng trưởng 2 con số giai đoạn tới là rất lớn, trong khi nguồn tích lũy trong nước không đủ đáp ứng, giải pháp tất yếu là huy động thêm nguồn vốn từ bên ngoài.
Hiện Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC), thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới, đang đề xuất cấp một khoản vay xã hội trị giá 86 triệu USD cho SeABank. Ngoài ra, tại ĐHĐCĐ thường niên năm nay, VIB cũng đặt mục tiêu huy động 1 tỷ USD từ thị trường quốc tế.
Việc các ngân hàng tìm cách huy động hàng tỷ USD vốn ngoại trong 7 tháng đầu năm nay không có gì đáng ngạc nhiên trong bối cảnh áp lực huy động vốn với nền kinh tế là rất lớn. Trong tuần này, lãi suất huy động tại thị trường trong nước tiếp tục tăng cao, lãi suất kỳ hạn 6 tháng đã lên tới 9-9,5%. Tại các ngân hàng thương mại, tỷ lệ LDR thuần (huy động/cho vay) đã lên tới 114-115%, cho thấy thanh khoản hết sức căng thẳng.
Không chỉ các ngân hàng, mà doanh nghiệp cũng dồn dập gõ cửa các định chế tài chính quốc tế. Trong tháng 6/2026, thị trường chứng kiến hai hợp đồng vay vốn quốc tế lớn. Theo đó, Tập đoàn Masan (MSN) huy động thành công khoản vay hợp vốn quốc tế trị giá 750 triệu USD từ 15 ngân hàng quốc tế; Công ty CP Chứng khoán Kafi cũng vừa hoàn tất khoản vay hợp vốn quốc tế trị giá 24,95 triệu USD (kèm quyền mở rộng thêm gần 5 triệu USD).
![]() |
Trước đó, Vingroup thông báo phát hành thành công 350 triệu USD trái phiếu quốc tế. Đầu năm nay, Tập đoàn Stavian Hóa chất cũng được Standard Chartered Việt Nam thu xếp thành công khoản vay hợp vốn quốc tế ngắn hạn trị giá 70 triệu USD.
Theo Masan, khoản vay quốc tế 750 triệu USD đã giúp Tập đoàn giảm áp lực tái cấp vốn ngắn hạn và củng cố khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế dài hạn. Đồng thời, lãi suất khoản vay này thấp hơn giai đoạn trước, giúp Masan tiết kiệm khoảng 4,4 triệu USD chi phí lãi vay mỗi năm so với các khoản vay hiện hữu.
Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, lãnh đạo một ngân hàng TMCP cho hay, vốn trên thị trường quốc tế rất dồi dào, nhưng để tiếp cận, ngân hàng phải đáp ứng những điều kiện khắt khe. Đối với lĩnh vực ngân hàng, các hợp đồng tín dụng với định chế tài chính nước ngoài chủ yếu là qua “tấm vé thông hành” mang tên ESG, phát triển bền vững. Trong khi đó, với doanh nghiệp, yếu tố then chốt là sức khỏe tài chính và xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp, cùng với khả năng quản trị rủi ro tỷ giá.
Dù vậy, vị lãnh đạo này cũng chia sẻ, vốn vay trên thị trường quốc tế không hề rẻ. Hiện nay, lãi suất vay bằng USD trên thị trường quốc tế dao động ở mức 5,5-6%/năm (đã bao gồm biên độ rủi ro dao động 2-4%). Ngoài ra, khoản vay còn phải gánh thêm phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá, phí thu xếp khoản vay… Như vậy, tổng chi phí lãi suất vay vốn quốc tế sẽ dao động 8-9%/năm, tương tự với lãi vay trong nước.
“Tuy nhiên, điều quan trọng nhất khi vay vốn quốc tế là được tiếp cận gói vay quy mô lớn và kỳ hạn dài lên tới 3-5 năm - đây là điều mà ngân hàng, doanh nghiệp trong nước rất khó tìm kiếm được ở thị trường nội địa. Việc tiếp cận nguồn vốn quốc tế sẽ làm giảm áp lực huy động vốn lên thị trường trong nước”, vị lãnh đạo trên cho biết.
Phát hành trái phiếu quốc tế để huy động vốn cho các đại dự án
Mục tiêu tăng trưởng GDP 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030 đang đặt ra bài toán rất lớn về huy động nguồn lực cho nền kinh tế. Theo Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính), tổng nhu cầu vốn cho giai đoạn này ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025.
Nhu cầu vốn tăng cao đang gây áp lực lớn cho hệ thống ngân hàng. Hiện nay, ngân hàng là kênh dẫn vốn chính cho nền kinh tế với quy mô tổng dư nợ đã lên tới hơn 20 triệu tỷ đồng (trong khi tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành chỉ hơn 1 triệu tỷ đồng). Gánh nặng dồn lên vai ngân hàng khiến tỷ lệ tín dụng/GDP đã vượt 145%, tỷ lệ đòn bẩy cao ở mức báo động.
Trong bối cảnh này, huy động vốn trung và dài hạn từ thị trường quốc tế là rất cần thiết. Dù vậy, thực tế cho thấy, các hợp đồng vay vốn quốc tế thời gian qua của các ngân hàng chủ yếu vẫn trong lĩnh vực phát triển bền vững, bình đẳng xã hội. Vốn quốc tế tài trợ cho lĩnh vực hạ tầng vẫn còn ít.
Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp mới đây, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank nêu thực tế, ngành ngân hàng đang mất cân đối về nguồn vốn, gặp rất nhiều khó khăn trong bố trí đủ nguồn vốn để cung ứng tín dụng cho nền kinh tế và phải đối mặt với rủi ro chi phí vốn tiếp tục tăng thời gian tới.
“Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10%, tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế cần đạt khoảng 40% GDP. Tuy nhiên, theo tính toán độc lập của nhóm kinh tế vĩ mô Vietcombank, tỷ lệ tiết kiệm bình quân trong nước mới đạt khoảng 36,5% GDP. Nếu loại trừ khu vực kinh tế phi chính thức thì nguồn tiết kiệm trong nước còn thiếu hụt nhiều hơn”, ông Tùng phân tích.
Áp lực vốn cho tăng trưởng 2 con số giai đoạn tới là rất lớn, trong khi nguồn tích lũy trong nước không đủ đáp ứng, lãnh đạo Vietcombank cho rằng, giải pháp tất yếu là huy động thêm nguồn vốn từ bên ngoài.
Chính vì vậy, đại diện Vietcombank đề xuất, Bộ Tài chính nghiên cứu phát hành trái phiếu quốc tế. Theo ngân hàng này, với uy tín hiện nay của Việt Nam trên thị trường quốc tế, việc phát hành trái phiếu có thể đạt mức lãi suất thuận lợi hơn so với để từng doanh nghiệp tự huy động vốn.
Về vấn đề này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho hay, Ngân hàng Nhà nước đang tính toán phương án triển khai và chắc chắn sẽ tham gia. Bộ Tài chính sẽ căn cứ nhu cầu vốn của nền kinh tế để phối hợp với Ngân hàng Nhà nước thực hiện nội dung này.
Theo các chuyên gia kinh tế, nhiều năm qua, ngoài nguồn ngân sách, vốn đầu tư cho các dự án hạ tầng vẫn dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Các dự án hạ tầng thường có thời gian đầu tư và thu hồi vốn dài hạn, trong khi 80-90% nguồn vốn huy động của ngân hàng hiện nay là ngắn hạn. Dùng vốn ngắn hạn để cho vay các công trình dài hạn đẩy rủi ro kỳ hạn của các ngân hàng vào tình thế căng thẳng. Chính vì vậy, để thực hiện các đại dự án giai đoạn tới, bên cạnh vốn ngân sách và ngân hàng, cần phải đa dạng hóa các kênh dẫn vốn khác (trong đó có kênh trái phiếu quốc tế).
Tuy nhiên, đối với trái phiếu hạ tầng, các chuyên gia khuyến nghị, cần phát triển trái phiếu dự án cụ thể, thay vì trái phiếu chung chung (áp dụng với cả trái phiếu quốc tế lẫn trái phiếu phát hành nội địa). Việc gắn với từng dự án cụ thể sẽ khiến trái phiếu phát hành hấp dẫn và đáng tin cậy hơn, vì khi đó tài sản bảo đảm, dòng tiền riêng cho từng dự án, mức độ bảo lãnh của Nhà nước (hoặc ngân hàng)… cũng sẽ rõ ràng, minh bạch hơn.
