PGS-TS. Lê Bộ Lĩnh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược kinh tế, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội
Theo ông, vì sao an ninh năng lượng được đặc biệt coi trọng khi xung đột ở Trung Đông nổ ra?
Có nhiều chuyên gia cho rằng, cũng giống tất cả các cuộc chiến tranh khác, xung đột ở Trung Đông sớm muộn rồi cũng kết thúc, hoạt động giao thương trên thế giới sẽ trở lại bình thường. Điều đó không sai, nhưng thế giới ngày càng bất ổn, khó đoán định và mong manh. Chưa cần xung đột trên thế giới, mà bất cứ sự cố nào đó xảy ra trên thế giới đều tác động ngay tới nền kinh tế mở như Việt Nam.
Đơn cử năm 2021, chỉ cần “siêu tàu” chở hàng Ever Given bị mắc kẹt trong kênh đào Suez (Ai Cập) đã làm tê liệt dòng chảy thương mại hàng hải thế giới và Việt Nam đã bị ảnh hưởng. Vì vậy, an ninh năng lượng là chiến lược dài hạn quốc gia, là vấn đề sống còn với Việt Nam, chứ không phải chỉ được coi trọng khi bất ổn nguồn cung xảy ra và khi nguồn cung trở lại bình thường thì coi nó là bình thường.
Nhìn thấy trước tầm quan trọng của an ninh năng lượng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 70-NQ/TW (ngày 20/8/2025) về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, phải kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
Bối cảnh thế giới có nhiều bất ổn, xung đột địa chính trị xảy ra ở nhiều khu vực tác động thế nào tới an ninh năng lượng của Việt Nam?
Các cuộc xung đột ở các tuyến hàng hải như Biển Đỏ và eo biển Hormuz ảnh hưởng trực tiếp đến việc nhập khẩu nhiên liệu. Sự thay đổi lộ trình của hãng tàu dẫn đến tình trạng chậm trễ trong cung cấp hàng hóa, làm tăng chi phí vận tải và bảo hiểm hàng hải. Giá năng lượng đầu vào tăng cao, gây áp lực lên giá điện và giá xăng dầu trong nước. Điều này không chỉ gây khó khăn cho người tiêu dùng, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng sản xuất của nền kinh tế.
Biến động giá năng lượng đã tác động trực tiếp đến áp lực lạm phát tại Việt Nam. Khi giá dầu Brent đạt mức cao quanh ngưỡng 90-100 USD/thùng, chi phí nhập khẩu năng lượng tăng mạnh, ảnh hưởng đến các mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong khi đất nước cần duy trì tăng trưởng kinh tế 2 con số theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng, thì bất ổn giá toàn cầu làm quá trình dự báo và lập kế hoạch ngân sách cho ngành năng lượng trở nên khó khăn.
Hơn nữa, Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức trong việc cân bằng giữa an ninh năng lượng, công bằng năng lượng và bền vững môi trường - được gọi là “tam giác khó khăn”. Quyết định số 458/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (tháng 3/2026) khẳng định, chuyển đổi năng lượng phải gắn chặt với an ninh quốc gia, ưu tiên sự ổn định của hệ thống điện phục vụ sản xuất.
Môi trường địa chính trị còn ảnh hưởng đến khả năng thăm dò và khai thác nội địa. Căng thẳng tại Biển Đông có thể gây khó khăn cho hoạt động khai thác tại các mỏ khí chiến lược. Sự bất ổn này có thể khiến các nhà đầu tư quốc tế do dự trong việc rót vốn vào những dự án năng lượng lớn mà không có các cam kết bảo lãnh chính phủ vững chắc.
Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Theo ông, an ninh năng lượng đóng vai trò thế nào khi thực hiện mục tiêu này?
Có thể nói, năng lượng chính là “huyết mạch” của nền kinh tế hiện đại. Nếu không có năng lượng ổn định, đủ và giá hợp lý, thì mọi mục tiêu tăng trưởng, đặc biệt là tăng trưởng 2 con số, đều rất khó thực hiện.
Chúng ta có thể nhìn vào cấu trúc của nền kinh tế hiện nay để thấy rõ điều đó. Việt Nam đang chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao, kinh tế số và đổi mới sáng tạo. Những lĩnh vực này đều tiêu thụ năng lượng rất lớn và đòi hỏi nguồn điện phải ổn định với chất lượng cao.
Với các ngành truyền thống như dệt may, da giày, nếu mất điện vài ba tiếng, công nhân phải nghỉ việc, doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí bị hủy đơn hàng, nhưng sau đó vẫn hoạt động bình thường. Tuy nhiên, các trung tâm dữ liệu (data center), nhà máy sản xuất chip, thiết bị điện tử, hay các hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) cần nguồn điện liên tục, ổn định 24/7. Chỉ cần mất điện nửa phút thì không cách nào khắc phục được, chắc chắn gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp và uy tín quốc gia trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Vì vậy, Nghị quyết 70-NQ/TW nhấn mạnh, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước, là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới.
An ninh năng lượng không chỉ là câu chuyện của ngành điện hay ngành dầu khí, mà là một trụ cột của an ninh kinh tế quốc gia, giống như an ninh lương thực hay an ninh tài chính. Nếu không bảo đảm được an ninh năng lượng, chúng ta không thể nói tới tăng trưởng nhanh, càng không thể nói tới tăng trưởng bền vững.
Muốn tăng trưởng 2 con số, Việt Nam tập trung vào phát triển AI, bán dẫn, Big data và chuyển đổi số, nhu cầu năng lượng sẽ thay đổi thế nào?
Thứ nhất, nhu cầu điện sẽ tăng nhanh hơn tốc độ tăng GDP. Thông thường, các nước đang công nghiệp hóa có hệ số đàn hồi điện năng khoảng 1,2-1,5 lần tăng trưởng GDP. Nếu Việt Nam tăng trưởng 10%, thì nhu cầu điện có thể tăng 12-15% mỗi năm.
Thứ hai, cấu trúc tiêu thụ năng lượng sẽ thay đổi. Trước đây, điện chủ yếu phục vụ sản xuất công nghiệp truyền thống, nhưng trong tương lai, các ngành công nghệ số sẽ tiêu thụ điện rất lớn. Chẳng hạn, một trung tâm dữ liệu lớn có thể tiêu thụ điện tương đương một khu công nghiệp. Khi Việt Nam thu hút các tập đoàn công nghệ lớn, chúng ta phải tính trước bài toán năng lượng cho các ngành này.
Thứ ba, chất lượng năng lượng rất quan trọng. Ngành công nghệ cao không chỉ cần đủ điện mà còn cần điện ổn định, không gián đoạn, có hạ tầng truyền tải hiện đại.
An ninh năng lượng không chỉ là bảo đảm nguồn cung ổn định lâu dài với giá cả phù hợp, mà còn phải sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, thưa ông?
Việt Nam có Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, nhưng trên thực tế, cả người dân, doanh nghiệp đều chưa sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, trong khi đây là “nguồn năng lượng rẻ nhất”. Nếu chúng ta giảm được 1% mức tiêu thụ điện nhờ nâng cao hiệu quả sử dụng, thì tương đương việc xây thêm một nhà máy điện mà không cần đầu tư hàng tỷ USD.
Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa để tiết kiệm năng lượng, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, xây dựng, giao thông, các tòa nhà thương mại. Chúng ta cần áp dụng các tiêu chuẩn tiết kiệm năng lượng nghiêm ngặt hơn, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng năng lượng tiết kiệm. Trong tương lai, những doanh nghiệp sử dụng năng lượng hiệu quả và thân thiện môi trường sẽ có lợi thế cạnh tranh rất lớn.