Nhu cầu vốn cao tiếp tục tạo áp lực lên thanh khoản của ngành ngân hàng
Nhiều ngân hàng huy động vốn chậm hơn cho vay
Tính đến cuối tháng 6/2026, tổng tài sản của Techcombank đạt hơn 1,27 triệu tỷ đồng; trong đó, cho vay khách hàng đạt 847.336 tỷ đồng.
Xét về cơ cấu tín dụng, cho vay cá nhân chiếm 42% tổng dư nợ, 58% còn lại thuộc về phân khúc cho vay tổ chức. Các ngành có dư nợ lớn có thể kể đến như kinh doanh bất động sản (26,68%); công nghiệp chế biến chế tạo (8,29%); xây dựng (5,19%); bán buôn bán lẻ, sửa chữa mô tô, ô tô, xe máy (8,73%)… Với mức tăng trưởng dư nợ cho vay đạt 10,4% trong nửa đầu năm, thu nhập lãi thuần của Techcombank đạt hơn 17.400 tỷ đồng, duy trì mức tăng trưởng hơn 16%.
Trong khi đó, tổng tiền gửi khách hàng của Techcombank tính đến cuối tháng 6/2026 chỉ tăng 7% so với cuối năm trước, đạt 662.448 tỷ đồng. Ngân hàng cho biết, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn đạt 38,3%, với số dư 267.000 tỷ đồng nhờ động lực tăng trưởng từ nhóm khách hàng doanh nghiệp. Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu đạt 1,08%, tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 126%. Hệ số an toàn vốn (CAR) đạt mức 15%, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) được kiểm soát ở mức 80,1%, trong khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn duy trì ở mức 27,8%.
Tại VPBank, tính đến cuối quý II/2026, tín dụng ngân hàng mẹ đạt gần 1,06 triệu tỷ đồng, tăng 24,6% so với cuối năm 2025. Trong khi đó, quy mô tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá hợp nhất đạt gần 902.000 tỷ đồng, tăng 22,7% so với cuối năm 2025 nhờ đóng góp chủ đạo từ ngân hàng mẹ. Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu ngân hàng riêng lẻ duy trì quanh 2%, thấp hơn so với mục tiêu 2,5%; tỷ lệ nợ xấu hợp nhất dưới 3%. Tỷ lệ LDR và vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lần lượt đạt 84,5% và 22,4%, đều tuân thủ quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Còn tại LPBank, tính đến ngày 30/6/2026, huy động vốn trên thị trường 1 đạt 432.535 tỷ đồng, tăng 8% so với đầu năm. Dư nợ cho vay khách hàng dù thấp hơn so với huy động vốn, khi đạt 429.465 tỷ đồng nhưng vẫn tăng trưởng nhanh hơn huy động vốn, với mức tăng 10% so với đầu năm và 16% so cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức 1,85%, tỷ lệ an toàn vốn đạt 11,23%, cao hơn mức tối thiểu theo quy định, tạo điều kiện để Ngân hàng mở rộng tín dụng trong thời gian tới. Các chỉ tiêu thanh khoản được duy trì ở mức an toàn, với LDR 76,55%, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn ở mức 22,25%, tỷ lệ dự trữ thanh khoản 16,13%, qua đó, củng cố nền tảng tài chính cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Thông tin từ NHNN cho biết, tính đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2025, song tốc độ tăng trưởng huy động vốn chậm hơn. Trước đó, tính đến ngày 15/6/2026, tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn cao hơn huy động vốn 2%.
Vietbank có lẽ là ngân hàng hiếm hoi vẫn có mức huy động vốn vượt dư nợ cho vay. Cụ thể, tại Vietbank, dư nợ cho vay tại cuối quý II/2026 đạt 120.294 tỷ đồng, tăng 11% so với cuối năm 2025; tiền gửi khách hàng đạt 132.369 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng 5,6% trong cùng thời gian.
Có áp lực thanh khoản
Từ thực tế tăng trưởng huy động chậm hơn cho vay, để đảm bảo thanh khoản, nhiều nhà băng vẫn khuyến mãi, “tặng lãi suất” để thu hút dòng tiền gửi. Thậm chí, một số ngân hàng chỉ niêm yết lãi suất từ 6 - 7%/năm cho kỳ hạn từ 6 - 12 tháng, nhưng thực tế đã trả lãi suất đến 9%/năm cho khoản tiền gửi có kỳ hạn 6 tháng và 9,1%/năm cho kỳ hạn 12 tháng.
Thời gian qua, Chính phủ và các bộ, ngành đã chung tay xử lý vấn đề thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Từ thực trạng giải ngân đầu tư công chậm, số dư tiền gửi kho bạc tăng nhanh, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 168, cho phép Bộ Tài chính được chủ động quyết định hạn mức sử dụng ngân quỹ Nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại, có thể vượt mức 50% ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi (quy định hiện tại tối đa là 50%). Trước đó, NHNN cũng ban hành Thông tư 25/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng thương mại được tính 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
Cùng với các giải pháp trên, thời gian qua, NHNN đã mở rất nhiều “cửa sổ” để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống, đặc biệt là điều hành linh hoạt thông qua nghiệp vụ thị trường mở (OMO) và nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (Swap) để cung ứng thanh khoản VND kịp thời cho các tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó, việc nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ mức 30% lên 40% được kỳ vọng sẽ mở thêm dư địa để ngân hàng phân bổ nguồn vốn vào các dự án hạ tầng trọng điểm.
Thế nhưng, các ngân hàng vẫn lo ngại về áp lực thanh khoản trong nửa cuối năm, nhất là khi nhu cầu vốn tín dụng thường tăng trong mùa cao điểm. Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp về tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng diễn ra mới đây, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Vietcombank (VCB) đã nêu khó khăn mà ngân hàng thương mại đang phải đối mặt, gồm huy động đủ tiền để cung ứng tín dụng; chênh lệch giữa nguồn vốn huy động và nhu cầu cho vay; nguy cơ chi phí vốn tăng; áp lực về nguồn cung ngoại tệ và tỷ giá; cùng những vướng mắc liên quan đến tài sản bảo đảm. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khả năng huy động nguồn tiền tương ứng với mục tiêu tăng trưởng tín dụng.
Lãnh đạo VCB cho biết, Ngân hàng đang tuân thủ định hướng của Chính phủ và NHNN về giữ mặt bằng lãi suất huy động, trong khi nhu cầu vay vốn của nền kinh tế tiếp tục tăng. Điều này khiến lượng vốn Ngân hàng huy động được chưa theo kịp nhu cầu cho vay.
Theo tính toán của nhóm kinh tế vĩ mô VCB, để GDP tăng 10%, tổng vốn đầu tư của nền kinh tế cần tương đương khoảng 40% GDP. Trong khi đó, tỷ lệ tiết kiệm bình quân trong nước mới đạt khoảng 36,5% GDP. Nếu loại trừ khu vực kinh tế phi chính thức, mức thiếu hụt còn lớn hơn. Từ chênh lệch này, ông Tùng nhận định, nguồn tích lũy trong nước khó đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn, nhất là khi nhiều dự án quy mô lớn được triển khai. Nền kinh tế, vì thế, cần tìm thêm nguồn tiền từ bên ngoài, thay vì tiếp tục đặt phần lớn sức ép lên hệ thống ngân hàng.
Dù thiếu nguồn huy động so với cầu tăng trưởng tín dụng, nhưng Chủ tịch VCB cho biết, hiện Ngân hàng duy trì tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động dưới 70%, thấp hơn giới hạn 80% theo quy định. Theo ông Tùng, mức này bảo đảm biên an toàn cao, giúp kiểm soát thanh khoản, tiếp tục cung ứng vốn hỗ trợ hệ thống khi cần thiết.
Cũng theo lãnh đạo VCB, tính đến ngày 30/6/2026, tổng tài sản của Ngân hàng đạt gần 2,67 triệu tỷ đồng, tăng 9,83% so với cuối năm 2025. Huy động vốn từ thị trường I đạt trên 1,75 triệu tỷ đồng; dư nợ tín dụng đạt 1,74 triệu tỷ đồng, tăng 4,8%.
Agribank mới đây cũng cập nhật thông tin về kết quả kinh doanh nửa đầu năm 2026. Theo đó, tính đến 30/6/2026, tổng tài sản của Agribank đạt trên 2,7 triệu tỷ đồng; tổng nguồn vốn huy động đạt trên 2,5 triệu tỷ đồng; dư nợ cho vay nền kinh tế vượt mốc 2 triệu tỷ đồng. Trong đó, dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn đạt hơn 1,32 triệu tỷ đồng, chiếm 64,9% tổng dư nợ.
Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn chia sẻ, khoảng 80% vốn huy động trong hệ thống ngân hàng hiện nay là ngắn hạn, còn nguồn trung và dài hạn chỉ chiếm 20%. Cơ cấu này chưa phù hợp với nhu cầu vay trung và dài hạn rất lớn của doanh nghiệp, nhất là vốn dành cho đầu tư và các dự án quy mô lớn. Nếu nhu cầu tín dụng tiếp tục tăng trong khi nguồn huy động hạn chế, các ngân hàng có thể phải nâng lãi suất tiền gửi để thu hút vốn. Chi phí đầu vào tăng sẽ đẩy lãi suất cho vay lên theo, trực tiếp làm tăng gánh nặng tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, NHNN đang cố gắng giảm áp lực lên mặt bằng lãi suất, còn các ngân hàng thương mại thống nhất không cạnh tranh huy động vốn bằng mọi giá.
Ông Ấn cũng cho biết, NHNN đang tính toán phương án huy động vốn từ nước ngoài. Bộ Tài chính sẽ căn cứ nhu cầu vốn của nền kinh tế để phối hợp với NHNN. Dù vậy, khi ngân hàng trong nước phải vay vốn quốc tế để bổ sung nguồn lực, chi phí cho vay hoặc bảo lãnh khó tránh khỏi tăng lên. Cơ quan quản lý đồng thời nghiên cứu mở rộng cho vay bằng ngoại tệ. Trước mắt, doanh nghiệp nhập khẩu phục vụ đầu tư có thể được xem xét tiếp cận nguồn vốn này.