TNG đã ký đủ đơn đặt hàng cho năm 2026 và đang đàm phán đơn hàng năm 2027
Đơn hàng mới tăng nhanh hơn
Theo công bố của S&P Global, chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam đạt 53,3 điểm trong tháng 8, tiếp tục cải thiện so với mức 52,9 điểm trong tháng 7 và nằm trên ngưỡng 50 điểm tháng thứ 14 liên tiếp.
PMI là chỉ số đo lường sức khỏe và mức độ hoạt động của ngành sản xuất dựa trên khảo sát các giám đốc mua hàng. Chỉ số này đạt 50 điểm thể hiện hoạt động sản xuất đi ngang, còn khi đạt trên 50 điểm cho thấy ngành sản xuất đang mở rộng và phát triển tốt hơn so với tháng trước. Như vậy, trong tháng 8, tốc độ tăng số lượng đơn đặt hàng mới của Việt Nam nhanh hơn và đây là mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 10 năm ngoái.
Theo ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, tăng trưởng ngành sản xuất của Việt Nam bắt đầu mạnh lên ở thời điểm giữa quý III. Sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới trong tháng 8 không chỉ lấy lại tốc độ tăng trưởng đáng chú ý được ghi nhận vào đầu năm, mà còn vượt xa hơn.
Khi áp lực giá cả và đứt gãy nguồn cung - do ảnh hưởng của xung đột địa chính trị tại khu vực Trung Đông - phần nào hạ nhiệt, các nhà sản xuất có thể gia tăng tiếp nhận đơn đặt hàng mới và tăng sản lượng để đáp ứng nhu cầu từ thị trường. Mức tăng trưởng này đặt trong bối cảnh quy mô lực lượng lao động giảm trở lại trong tháng 8 cho thấy các công ty có thể nâng cao năng suất lao động, hiệu quả vận hành hệ thống.
Bức tranh tăng trưởng đơn hàng của ngành sản xuất có thể thấy được qua số liệu xuất khẩu. Theo Bộ Công Thương, trong 8 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam ước đạt 374 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện lần đầu vượt mốc 100 tỷ USD. Tính riêng tháng 8/2026, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 54,23 tỷ USD, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm và đây là tháng thứ ba liên tiếp xuất khẩu Việt Nam vượt 50 tỷ USD/tháng. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam gồm điện thoại và linh kiện, máy móc thiết bị phụ tùng, dệt may, da giày, rau quả, gỗ và các sản phẩm gỗ, thuỷ sản…
Nâng cao năng suất, mở rộng thị trường
Thông tin từ nhiều doanh nghiệp niêm yết cũng cho thấy những chuyển biến tích cực trong hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Trong ngành chế biến gỗ xuất khẩu, Công ty cổ phần Phú Tài (mã PTB) ghi nhận doanh thu thuần hợp nhất 6 tháng đầu năm đạt hơn 4.181 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 286,5 tỷ đồng, lần lượt tăng 18,6% và tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước. So với mục tiêu doanh thu 8.790 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 760 tỷ đồng trong năm 2026, Công ty thực hiện 47,5% kế hoạch doanh thu và 46,4% kế hoạch lợi nhuận sau nửa chặng đường của năm.
Cuối tháng 7 vừa qua, Phú Tài đã khánh thành nhà máy sản xuất viên nén gỗ mới tại Khánh Hòa. Đây là nhà máy viên nén gỗ thứ ba của Công ty, sau hai nhà máy đã đi vào hoạt động tại Phù Cát và An Khê, tỉnh Gia Lai. Với sự bổ sung này, tổng công suất sản xuất viên nén gỗ của Phú Tài đạt 300.000 tấn/năm.
Phú Tài cho biết, việc đặt cơ sở sản xuất tại Khánh Hòa, bên cạnh các nhà máy hiện có tại Gia Lai giúp Công ty có nền tảng địa lý rộng hơn cho việc thu mua nguyên liệu và tổ chức logistics - hỗ trợ định hướng phục vụ lâu dài đối với các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu thông qua một mạng lưới sản xuất đa điểm.
Mới đây, Phú Tài đã có quyết định góp vốn đầu tư thành lập công ty tại Mỹ với quy mô 1 triệu USD; trong đó, tỷ lệ góp vốn của Công ty là 95%. Việc thành lập pháp nhân tại Mỹ, theo Phú Tài, nhằm thực hiện hoạt động thương mại, kinh doanh, phân phối, xuất nhập khẩu các sản phẩm đá thạch anh, đá granite, đồ gỗ nội - ngoại thất và các sản phẩm khác phù hợp với định hướng kinh doanh của Công ty.
Tại Công ty cổ phần Gỗ Đức Thành (mã GDT), hoạt động kinh doanh tiếp tục được thúc đẩy bởi các sáng kiến cải tiến, nâng cao năng suất lao động. Nhờ đó, dù nhu cầu của thị trường châu Âu - thị trường xuất khẩu chủ lực - chưa phục hồi rõ nét nhưng lợi nhuận sau thuế của Gỗ Đức Thành vẫn tăng trưởng 11%, đạt 35,5 tỷ đồng, tăng mạnh so với tốc độ tăng 3% của doanh thu (đạt gần 145 tỷ đồng).
Gỗ Đức Thành cho hay, Công ty đã chủ động triển khai các dự án mở rộng nhà xưởng, hiện đã đầu tư đến nhà máy số 7, ứng dụng máy móc công nghệ hiện đại vào quy trình sản xuất, quản lý và nâng cao năng lực sản xuất.
Trong lĩnh vực dệt may, Công ty Chứng khoán Vietcombank nhận định, nhiều doanh nghiệp có triển vọng kinh doanh tích cực. Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex, mã VGT) được kỳ vọng duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu tốt nhờ đơn hàng sản phẩm may mặc Thu - Đông, trong khi mảng sợi tiếp tục triển vọng khả quan nhờ nhu cầu nhập khẩu từ Trung Quốc. Tuy nhiên, biên lợi nhuận gộp của Tập đoàn vẫn chịu áp lực do các chi phí đồng loạt tăng.
Công ty cổ phần Đầu tư - Thương mại TNG (mã TNG) được nhận định có đơn hàng đặt trước tiếp tục tích cực, hỗ trợ kỳ vọng kết quả kinh doanh cả năm duy trì khả quan. Hiện TNG đã kín đơn hàng đến hết năm 2026 và dự kiến bắt đầu đàm phán đơn hàng năm 2027 trong tháng 9 này.
Tương tự, triển vọng kinh doanh năm 2026 của Công ty cổ phần May Sông Hồng (mã MSH) được hỗ trợ bởi nhu cầu đơn hàng Thu - Đông.
Nhu cầu hàng Thu - Đông, sự phục hồi tại một số thị trường và tăng trưởng của mảng xơ sợi tạo động lực cho hoạt động xuất khẩu các mặt hàng này. Tuy nhiên, mức tăng trưởng của các doanh nghiệp ngành dệt may được nhận định khó đồng đều khi Mỹ gia tăng hàng rào thuế quan, EU siết tiêu chuẩn về môi trường, sức mua tại một số thị trường châu Á còn yếu, trong khi giá nguyên liệu và logistics cùng duy trì ở mức cao.
Trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu thuỷ sản, sản lượng cá tra trong 8 tháng đầu năm tăng 4,8% so với cùng kỳ, đạt 1.250.700 tấn, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 806.000 tấn, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú ước đạt 230.200 tấn, tăng 4,2%. Triển vọng kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra sang Mỹ tiếp tục được củng cố nhờ nhu cầu cá tra, cá rô phi từ thị trường này gia tăng khi nguồn cung cá thịt trắng tự nhiên (cá minh thái, cá tuyết) thu hẹp.
Đối với Công ty cổ phần Nam Việt (mã ANV), bên cạnh việc hưởng lợi ở thị trường Mỹ, doanh nghiệp này còn xuất khẩu cá rô phi sang Brazil. Nam Việt đang tập trung vào dòng sản phẩm ngách “phi lê cá đông lạnh cao cấp” dành cho bán lẻ và công nghiệp, không cạnh tranh trực tiếp với thị trường cá tươi địa phương của Brazil. Điều này vừa giúp khai thác được phân khúc có biên lợi nhuận tốt, vừa hạn chế rủi ro bị áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Nhu cầu ở thị trường này duy trì ở mức cao nhờ tiêu dùng ổn định mang lại triển vọng tích cực cho ANV.
Doanh nghiệp ngành tôm như Công ty cổ phần Thực phẩm Sao Ta (FMC) được nhận định tiêu thụ ở thị trường Mỹ sẽ giảm nhưng dự phóng lợi nhuận vẫn tăng trưởng trong năm nay. Công ty Chứng khoán Rồng Việt dự báo lợi nhuận sau thuế công ty mẹ FMC năm 2026 tăng trưởng 10%, đạt 385 tỷ đồng, còn năm 2027 tăng trưởng 6%, đạt 407 tỷ đồng. Mặc dù chính sách thuế quan bất lợi khiến sản lượng xuất khẩu của FMC sang Mỹ giảm nhưng chi phí SG&A được cải thiện nhờ không phải trích lập dự phòng thuế chống bán phá giá. Về dài hạn, FMC hướng tới mở rộng thị phần thông qua các sản phẩm chất lượng con giống để tối ưu chi phí và nâng cao biên lợi nhuận.
Tất nhiên, trong bối cảnh giá xăng dầu và nhiều nguyên vật liệu và mặt bằng lãi suất neo ở mức cao, doanh nghiệp ngành sản xuất chịu áp lực chi phí gia tăng, chưa kể gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư, Công ty Chứng khoán ABS, nhóm doanh nghiệp lớn vẫn có khả năng tiếp cận nguồn vốn để phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh, trong khi doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn. Để cải thiện biên lợi nhuận, các doanh nghiệp cần tiếp tục kiểm soát tối ưu chi phí, nâng cao năng suất.