BSR báo lãi sau thuế 6 tháng đầu năm đạt 12.636 tỷ đồng, cao gấp gần 7 lần cùng kỳ
Tín hiệu phục hồi lan tỏa ở nhiều ngành
Điểm đáng chú ý trong mùa báo cáo kết quả kinh doanh quý II năm nay là tại nhiều doanh nghiệp, lợi nhuận tăng nhanh hơn tốc độ tăng doanh thu, phản ánh hiệu quả hoạt động được cải thiện, khả năng kiểm soát chi phí và tối ưu vận hành.
Một trong những ngành phản ánh rõ nhất sự cải thiện của hoạt động sản xuất là dệt may - lĩnh vực từng chịu nhiều sức ép trong giai đoạn nhu cầu tiêu dùng toàn cầu suy giảm.
Báo cáo tài chính quý II/2026 của CTCP Đầu tư và Thương mại TNG (mã TNG) cho thấy, trong quý vừa qua, công ty này ghi nhận doanh thu hơn 2.914 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước; lợi nhuận sau thuế tăng 22%, đạt 147 tỷ đồng, là mức cao nhất trong lịch sử doanh nghiệp. Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu của TNG tăng 20%, nhưng lợi nhuận tăng đến 26%, đạt 204 tỷ đồng.
Theo doanh nghiệp, kết quả này đến từ việc mở rộng quy mô sản xuất, tập trung vào các đơn hàng có giá trị gia tăng cao, đẩy nhanh tiến độ giao hàng xuất khẩu, đồng thời đẩy mạnh số hóa và tự động hóa để nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất.
Tập đoàn Dệt May Việt Nam - Vinatex (mã VGT) báo cáo kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm, với doanh thu hợp nhất đạt 10.049 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 883 tỷ đồng, tăng 9,6% về doanh thu, nhưng tăng tới 32,4% về lợi nhuận so với cùng kỳ. Kết quả trên, theo Vinatex, là nhờ Tập đoàn chủ động xây dựng các kịch bản ứng phó với biến động thị trường, kiểm soát tốt chi phí và cải thiện năng suất lao động.
Trong khi đó, CTCP Sợi Phú Bài ghi nhận doanh thu quý II/2026 tăng 23,2%, nhưng lợi nhuận sau thuế tăng gấp 5 lần so với cùng kỳ, lần lượt đạt 343 tỷ đồng và 110 tỷ đồng, nhờ nhu cầu tiêu thụ sợi từng bước phục hồi, giúp sản lượng tiêu thụ và hiệu quả hoạt động sản xuất được cải thiện đáng kể.
Xu hướng tương tự cũng diễn ra ở nhóm doanh nghiệp vật liệu. Quý vừa qua, CTCP Nhựa Bình Minh (mã BMP) ghi nhận 1.319 tỷ đồng doanh thu, tăng nhẹ so với cùng kỳ, nhưng lợi nhuận sau thuế đạt 367 tỷ đồng, tăng khoảng 11% và cũng là mức lợi nhuận cao nhất tính theo quý trong lịch sử hoạt động của doanh nghiệp. Lũy kế 6 tháng đầu năm, BMP đạt 2.777 tỷ đồng doanh thu và 671 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng trưởng lần lượt 3% và 9% so với cùng kỳ.
Trong quý II, CTCP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong (mã NTP) đạt doanh thu 2.167 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ, song lợi nhuận sau thuế tăng tới gần 49%, đạt 478 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm, Công ty đạt doanh thu 3.645 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế 732 tỷ đồng, tăng gần 38%.
Tương tự, CTCP Thuận Đức (mã TDP) ghi nhận doanh thu thuần đạt 1.235 tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2025 nhờ các đơn hàng đã ký trước đó được giao đúng tiến độ, đồng thời thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa đều cải thiện. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế trong kỳ này lên tới 104%, đạt 41,3 tỷ đồng. Tính chung nửa đầu năm, Thuận Đức đạt 2.491,6 tỷ đồng doanh thu thuần và 67 tỷ đồng, tăng 37,6% về doanh thu và gấp 2,2 lần về lợi nhuận so với cùng kỳ.
Ở ngành thép, Tổng công ty Thép Việt Nam - VNSteel (mã TVN) ước tính doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm tăng 30,4% và lợi nhuận trước thuế tăng 32,1% so với cùng kỳ. Với nền so sánh năm trước, ước tính doanh nghiệp đạt khoảng 28.700 tỷ đồng doanh thu và khoảng 550 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong nửa đầu năm nay.
Theo công bố của Tập đoàn Hoa Sen (mã HSG), quý III niên độ tài chính 2025 - 2026 (từ ngày 1/4/2026 - 30/6/2026), lợi nhuận sau thuế của Công ty ước đạt khoảng 382 tỷ đồng, tăng gần 40% so với cùng kỳ. Kết quả này đến từ việc duy trì chiến lược quản trị hàng tồn kho linh hoạt, tối ưu chi phí và tận dụng hiệu quả hệ thống phân phối trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường phục hồi.
CTCP Xi măng Vicem Hà Tiên (mã HT1) công bố kết quả kinh doanh quý II/2026 với doanh thu tăng 17%, lợi nhuận ròng tăng 23%, lần lượt đạt 2.261 tỷ đồng và 138 tỷ đồng. Đây cũng là mức lợi nhuận cao nhất so với cùng kỳ trong vòng 5 năm nhờ sản lượng tiêu thụ xi măng tăng hơn 6%.
Giá dầu tăng mạnh đã giúp nhiều doanh nghiệp trong chuỗi giá trị dầu khí ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong nửa đầu năm.
Ở khâu thượng nguồn, Tổng CTCP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (mã PVS) ước đạt doanh thu hợp nhất 18.020 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế hơn 1.000 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm, ghi nhận mức tăng lần lượt là 29% và 21% so với cùng kỳ.
Trong khi đó, Tổng CTCP Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling, mã PVD) cho biết, doanh thu và lợi nhuận hợp nhất 6 tháng đầu năm dự kiến vượt khoảng 30% kế hoạch, đồng thời đánh giá triển vọng thị trường dịch vụ khoan vẫn tích cực nhờ nhu cầu thăm dò, khai thác gia tăng và nguồn cung giàn khoan tiếp tục hạn chế.
Ở khâu trung nguồn và hạ nguồn, Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) ước đạt khoảng 75.000 tỷ đồng doanh thu trong 6 tháng đầu năm, thực hiện 54% kế hoạch cả năm; lợi nhuận trước thuế ước đạt khoảng 8.000 tỷ đồng, vượt hơn 70% chỉ tiêu năm. Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (mã BSR) công bố đạt doanh thu hơn 100.900 tỷ đồng trong nửa đầu năm, tăng 47%; riêng lợi nhuận sau thuế cao gấp gần 7 lần cùng kỳ, đạt 12.636 tỷ đồng. CTCP Bọc ống Dầu khí Việt Nam (mã PVB) cũng ghi nhận doanh thu và lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đều tăng trên 100% so với cùng kỳ, lần lượt là 427,4 tỷ đồng và 37,3 tỷ đồng.
Thêm dư địa cho khu vực sản xuất
Kết quả kinh doanh tích cực của các doanh nghiệp cũng khá tương đồng với bức tranh chung của ngành sản xuất. Theo S&P Global, Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 6 đạt 51,8 điểm, tiếp tục duy trì trên ngưỡng 50 điểm. Báo cáo cho thấy số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng nhờ nhu cầu khách hàng cải thiện; sản lượng sản xuất tăng tháng thứ 14 liên tiếp và đạt tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 2. Để đáp ứng nhu cầu sản xuất, các doanh nghiệp cũng tăng mua nguyên vật liệu tháng thứ hai liên tiếp.
Sáu tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, tư liệu sản xuất chiếm tới 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu, chủ yếu là máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử và nguyên vật liệu phục vụ chế biến, chế tạo.
Việc tăng nhập khẩu nguyên liệu phản ánh kỳ vọng về đơn hàng trong những tháng tới cũng như nhu cầu mở rộng sản xuất khi thị trường dần cải thiện.
Sự cải thiện của khu vực sản xuất cũng bắt đầu phản ánh vào bức tranh lợi nhuận chung của doanh nghiệp niêm yết. Theo thống kê của FiinGroup, đến ngày 22/7/2026, 310 doanh nghiệp công bố hoặc ước tính sơ bộ kết quả kinh doanh quý II, tương ứng khoảng 22,2% tổng vốn hóa thị trường. Tổng lợi nhuận sau thuế của các công ty này tăng 24,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm doanh nghiệp phi tài chính tăng tới 35%, cao gần gấp đôi tốc độ tăng của nhóm tài chính.
Dù số lượng doanh nghiệp công bố báo cáo tài chính mới chiếm khoảng 20% thị trường và vẫn còn nhiều doanh nghiệp vốn hóa lớn chưa xuất hiện, kết quả bước đầu cho thấy khu vực sản xuất đang là điểm sáng của mùa báo cáo tài chính quý II/2026. Đây cũng là nhóm đóng góp chính vào đà tăng trưởng lợi nhuận của khối doanh nghiệp phi tài chính.
Tuy nhiên, triển vọng của khu vực sản xuất trong giai đoạn tới vẫn phụ thuộc vào diễn biến của kinh tế thế giới, sức cầu tại các thị trường xuất khẩu lớn, cũng như những thay đổi về chính sách thương mại và địa chính trị. Trong bối cảnh đó, việc tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ các điểm nghẽn về vốn và thể chế được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực để doanh nghiệp duy trì đà phục hồi.
Tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp mới đây, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh, mọi chủ trương, chính sách cần hướng tới xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, ổn định và minh bạch, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, tiếp cận bình đẳng các nguồn lực, đồng thời khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Thủ tướng yêu cầu Bộ Tài chính tiếp tục phát triển lành mạnh, ổn định thị trường vốn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp; Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng và điều hành phù hợp hạn mức tăng trưởng tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh.