Kết nối B2B, mở đường cho hàng Việt vào chuỗi cung ứng toàn cầu

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Khu vực B2B Matching tại VIS 2026 gây bất ngờ ngay ngày khai mạc, với hàng nghìn cuộc đàm phán 1-1 giữa nhà sản xuất Việt và nhà thu mua đến từ Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Đông và khối ASEAN, trải rộng nhiều ngành hàng. Nhiều đơn hàng và thỏa thuận phân phối đã được chốt ngay tại bàn đàm phán, mở đường cho hàng Việt tiến sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Kết nối B2B, mở đường cho hàng Việt vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ảnh : BTC Kết nối B2B, mở đường cho hàng Việt vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Ảnh : BTC

Mở cửa cho nhà sản xuất tiếp cận trực tiếp B2B lẫn B2C

Theo ông Võ Thanh Tòng, Quản lý tài khoản cấp cao, Amazon Global Selling Việt Nam, Việt Nam đang trở thành một trong những trung tâm của Amazon tại Đông Nam Á, với các nhóm hàng thế mạnh gồm nội thất, dệt may, thực phẩm chức năng, chăm sóc sức khỏe, thực phẩm khô và đồ dùng nhà bếp.

Từ năm 2026, Amazon mở rộng Amazon Custom cho các nhà sản xuất tại Việt Nam, tập trung vào những sản phẩm có thể tùy chỉnh theo nhu cầu như gỗ, nội thất, thủ công mỹ nghệ, đồ dùng văn phòng và bao bì. Đây là hướng đi giúp nhà sản xuất tiếp cận trực tiếp cả khách hàng B2B và B2C, thay vì chỉ đứng ở khâu sản xuất trong chuỗi cung ứng.

VinaBedding là một ví dụ đi trước theo hướng này. Thương hiệu nệm cao su thiên nhiên đã đăng ký bảo hộ tại 18 quốc gia và là thương hiệu nệm cao su Việt Nam đầu tiên tiếp cận kênh B2C trên Amazon Mỹ, hiện tiếp tục mở rộng sang thị trường châu Á và bán thêm trên Alibaba - cho thấy việc chủ động làm thương hiệu, kết hợp cả kênh B2B và B2C, đang mở ra dư địa lớn hơn so với chỉ gia công theo đơn hàng.

Ngoài ra, để duy trì được các quan hệ B2B đã thiết lập, sản xuất xanh đang trở thành điều kiện gần như bắt buộc chứ không chỉ là lợi thế hình ảnh. Theo ông Nguyễn Đăng Khoa, Giám đốc kinh doanh quốc tế Tân Phú, doanh nghiệp đang triển khai xanh hóa trên ba phương diện: nguyên liệu (sử dụng nhựa tái chế từ phế liệu thu gom tại nhà máy và từ nhà cung cấp đạt chuẩn), quy trình sản xuất (kiểm soát chất thải, nước thải, giảm tiêu hao năng lượng) và hệ thống quản lý, chứng nhận (ISO 14001, BSCI, FSC, cùng Higg FEM cho các khách hàng lớn tại Mỹ).

"Quan trọng là phải làm thật và kiểm soát được chất lượng, chứ không tái chế theo kiểu đối phó để né yêu cầu của khách hàng", ông Khoa chia sẻ, đồng thời cho biết các chứng nhận hiện không còn đơn thuần là "giấy tờ để đẹp hồ sơ", mà gần như trở thành "tấm vé thông hành" để doanh nghiệp tiếp cận và đàm phán với những khách hàng lớn - sau đó vẫn phải trải qua các đợt audit định kỳ với yêu cầu ngày càng cao về dữ liệu và khả năng kiểm chứng.

Yêu cầu khác nhau theo từng thị trường: tại EU là truy xuất nguồn gốc, tỷ lệ vật liệu tái chế và các tiêu chí carbon, vòng đời sản phẩm; tại Mỹ là minh bạch thông tin và trách nhiệm xã hội toàn chuỗi cung ứng, với Higg Index làm hệ quy chiếu phổ biến; còn tại Đông Nam Á, yêu cầu chưa chặt chẽ bằng nhưng đang tăng dần, đặc biệt từ các tập đoàn đa quốc gia và người tiêu dùng trẻ đô thị - được xem là dư địa để doanh nghiệp Việt chủ động đi trước. "Trong 5-10 năm tới, doanh nghiệp chậm xanh hóa sẽ mất dần lợi thế cạnh tranh, dù giá có tốt đến đâu", ông Khoa nhận định.

Nhà mua nước ngoài: Tiềm năng lớn, nhưng cần chuẩn hóa hơn

Từ góc nhìn của một hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài, ông Dionathan Santos, Chủ tịch điều hành Brazil Vietnam Chamber, cho biết đây là lần thứ hai hiệp hội tham dự VIS và kết quả thu được rất tích cực. Đặc biệt tại các gian hàng dệt may và nhựa, lượng khách tham quan để lại ấn tượng lớn, thậm chí có những giao dịch được chốt ngay tại chỗ. Tuy nhiên, theo ông Santos, việc kết nối giữa hai thị trường Việt Nam - Brazil không hề dễ dàng.

Chương trình kết nối người mua người bán tại VIS 2026. Ảnh BTC

Chương trình kết nối người mua người bán tại VIS 2026. Ảnh BTC

Chương trình kết nối người mua (Buyer Program) vì vậy đóng vai trò quan trọng, khi doanh nghiệp không chỉ tham gia sự kiện mà còn trực tiếp ra nước ngoài để kết nối - cả việc chuẩn bị để các nhà thu mua Brazil đến Việt Nam lẫn hỗ trợ các nhà cung cấp Brazil mở rộng thị trường đều được triển khai song song. Ông Santos tin rằng hiệu quả kết nối sẽ còn tốt hơn nữa nếu công tác quảng bá thương hiệu quốc gia được đẩy mạnh rộng rãi hơn trên toàn thế giới, để thu hút thêm nhiều người mua tiềm năng.

Là một trong những doanh nghiệp lần đầu tham dự VIS, ông Morteza M. Anwari đại diện Công ty ANWARI CO (Kuwait) - chuyên kinh doanh nguyên liệu thô và vật liệu xây dựng như gỗ, ván MDF, gỗ plywood, ván dăm và ván OSB... cho biết, trước đây công ty thường nhập các mặt hàng này từ Trung Quốc và châu Âu, nhưng luôn tìm kiếm thị trường mới cũng như nhà sản xuất mới có thể cung cấp chất lượng tốt hơn với mức giá cạnh tranh hơn.

Ông Morteza M. Anwari đánh giá sản phẩm Việt Nam có nhiều tiềm năng, nhưng qua tìm hiểu, phần lớn doanh nghiệp Việt vẫn tập trung nhiều vào thị trường nội địa và chưa thực sự am hiểu thị trường quốc tế. Theo ông, giao dịch với khách nội địa khá đơn giản, nhưng để xuất khẩu, doanh nghiệp cần kinh nghiệm làm việc với nhà cung cấp và nhà sản xuất quốc tế, phải đáp ứng và duy trì các tiêu chuẩn nhất định, tự nâng tầm mình lên ngang bằng hoặc cao hơn đối thủ mới có thể giành được phần bánh thị trường ở các quốc gia khác.

“Ở mảng công nghiệp, thương hiệu Việt Nam chưa thực sự nổi bật, một phần vì phải cạnh tranh trực tiếp với đối thủ rất mạnh ngay bên cạnh là Trung Quốc - điều ảnh hưởng lớn đến bài toán xuất khẩu và định vị bản thân. Các nhà sản xuất Việt Nam sẽ cần liên tục nâng cấp chính mình để theo kịp đối thủ”, đại diện Công ty ANWARI nói và cho biết, công ty sẽ cố gắng tìm được đối tác phù hợp cho thị trường Kuwait tại sự kiện này.

Theo ông Đỗ Quốc Hưng, Quyền Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài (Bộ Công Thương), sức mua tại nhiều thị trường phục hồi không đồng đều khiến nhà mua hàng thận trọng hơn, điều chỉnh tiêu chí mua hàng theo hướng thực tế: sản phẩm phải có chất lượng ổn định, mức giá phù hợp, khả năng giao hàng đáng tin cậy và có dư địa phát triển dài hạn.

Ông Hưng chỉ ra những nhóm nhu cầu chính. Trước hết là thực phẩm, đồ uống, nông sản và thủy sản chế biến - nhóm hàng thiết yếu, tần suất tiêu dùng cao, nơi Việt Nam có lợi thế về nguyên liệu, năng lực chế biến và sự đa dạng sản phẩm, song cơ hội tập trung nhiều hơn vào sản phẩm chế biến sâu, tiện lợi, tốt cho sức khỏe, có thời hạn bảo quản phù hợp và truy xuất được nguồn gốc.

Tiếp đến là dệt may, giày dép, đồ gỗ, nội thất, hàng gia dụng và sản phẩm phong cách sống - ở nhóm này, các buyer không chỉ quan tâm năng lực gia công mà còn tới khả năng thiết kế, phát triển sản phẩm, sản xuất theo nhãn hàng riêng và sử dụng vật liệu bền vững, cho thấy xu hướng buyer muốn xây dựng quan hệ đối tác sâu hơn thay vì chỉ đặt hàng gia công.

Tiếp theo là bao bì, logistics, công nghiệp hỗ trợ và giải pháp số cho chuỗi cung ứng - nhóm lĩnh vực mới có tiềm năng tăng trưởng khi các tập đoàn đa dạng hóa nguồn cung, cần đồng thời tìm kiếm nhà sản xuất, dịch vụ vận chuyển, kho vận, vật liệu, linh kiện và công nghệ quản lý, đặc biệt với doanh nghiệp có khả năng cung cấp giải pháp B2B chuyên biệt...

"Trong giai đoạn tiêu dùng thận trọng, cơ hội sẽ thuộc về sản phẩm đáp ứng tốt ba yêu cầu: giá trị sử dụng rõ ràng, chất lượng có thể kiểm chứng và tổng chi phí cung ứng cạnh tranh", ông Hưng nhận định.

Ngọc Lan

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục