Sáng 14/10, tại Hà Nội, Báo Tài chính - Đầu tư (cơ quan ngôn luận của Bộ Tài chính) phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh”.
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Phạm Văn Hoành, Tổng Biên tập Báo Tài chính - Đầu tư, nhấn mạnh yêu cầu hình thành hệ sinh thái tài chính đủ sức hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh.
"Việc sàn giao dịch carbon trong nước đi vào hoạt động từ ngày 29/6/2026 mở thêm một cấu phần cho thị trường, nhưng để biến giảm phát thải thành nguồn lực tài chính cần tiếp tục tháo gỡ các nút thắt về dữ liệu, xác minh, thanh khoản và niềm tin", ông Hoành nêu quan điểm.
Quy mô nhu cầu vốn hiện tại cho thấy bài toán không thể chỉ trông vào một kênh tài trợ. Theo ông Bùi Minh Giáp, đại diện Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), nhu cầu tài chính liên quan đến khí hậu của Việt Nam đến năm 2040 ước tính khoảng 368 tỷ USD, tương đương khoảng 6,8% GDP mỗi năm.
Trong đó, nhu cầu dành cho thích ứng với biến đổi khí hậu khoảng 254 tỷ USD, còn giảm nhẹ phát thải khoảng 114 tỷ USD. Riêng ngành điện cần khoảng 136 tỷ USD trong giai đoạn 2026-2030.
| |
Ông Bùi Minh Giáp, đại diện Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) - Ảnh: Chí Cường |
Các con số này phản ánh nhu cầu đầu tư không chỉ nằm ở việc đổi mới công nghệ tại từng doanh nghiệp, mà còn bao gồm những dự án hạ tầng quy mô lớn như năng lượng, giao thông, thoát nước và xử lý chất thải. Đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, thời gian triển khai dài và cơ chế tài chính phù hợp với đặc điểm dòng tiền.
Cần đa dạng công cụ huy động vốn
Theo số liệu được nêu tại hội thảo, tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn vốn quan trọng đối với quá trình chuyển đổi xanh. Dư nợ tín dụng xanh đến cuối tháng 6/2026 đạt hơn 856.000 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025. Cùng thời điểm, dư nợ cho vay được đánh giá có rủi ro môi trường, xã hội vượt 6,2 triệu tỷ đồng.
Ông Trần Anh Quý, Phó vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước, cho biết hệ thống ngân hàng đang cung ứng lượng vốn lớn cho nền kinh tế, với tăng trưởng tín dụng khoảng 20% mỗi năm và tổng dư nợ toàn hệ thống vào khoảng 13-14 triệu tỷ đồng.
Theo ông Quý, các ngân hàng cũng hợp tác với tổ chức quốc tế để tiếp cận các gói tài chính có kỳ hạn dài hơn, phục vụ những nhu cầu đầu tư phù hợp.
| |
Ông Trần Anh Quý, Phó vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước - Ảnh: Chí Cường |
Tuy nhiên, quy mô dư nợ tín dụng xanh hiện nay cần được nhìn trong tương quan với nhu cầu đầu tư dài hạn.
Các dự án chuyển đổi công nghệ, phát triển năng lượng sạch hoặc xây dựng hạ tầng giảm phát thải có thể cần nguồn vốn lớn, thời hạn dài và cơ cấu giải ngân theo từng giai đoạn.
Trong khi đó, ngân hàng phải thẩm định khả năng trả nợ, quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn vốn.
"Vì vậy, dù tín dụng xanh tiếp tục mở rộng, việc bổ sung các kênh huy động vốn khác vẫn có ý nghĩa quan trọng", đại diện Ngân hàng Nhà nước lưu ý.
Trong khi đó, ông Nguyễn Việt Long, Phó tổng giám đốc, Phụ trách dịch vụ tư vấn, Earn & Young (E&Y) Việt Nam, cho rằng nhu cầu vốn xanh không chỉ đến từ dự án của doanh nghiệp mà còn từ những công trình hạ tầng như giao thông, năng lượng, thoát nước và xử lý chất thải.
Theo ông Long, thị trường cần đa dạng hóa công cụ huy động vốn; bên cạnh tín dụng ngân hàng, các kênh trái phiếu, trong đó có trái phiếu xanh, có thể bổ sung nguồn lực cho những dự án phù hợp.
| |
Ông Nguyễn Việt Long, Phó tổng giám đốc, Phụ trách dịch vụ tư vấn, E&Y Việt Nam - Ảnh: Chí Cường |
Điều đó cũng đặt ra yêu cầu phân chia vai trò giữa các nguồn vốn. Tín dụng ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu tài chính ở giai đoạn đầu hoặc những khoản vay phù hợp với năng lực trả nợ của doanh nghiệp.
Khi dự án có hồ sơ minh bạch, quy mô đủ lớn và phương án dòng tiền rõ ràng, doanh nghiệp có thể cân nhắc thêm các công cụ huy động vốn trên thị trường.
Những dự án hạ tầng có thời gian thu hồi vốn dài cũng cần cấu trúc tài chính phù hợp hơn, thay vì phụ thuộc vào một nguồn tài trợ duy nhất.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hữu Tú, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần MIZA, chia sẻ kinh nghiệm đầu tư vào các hạng mục phục vụ sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn như xử lý nước thải, xử lý chất thải, sử dụng nhiên liệu sinh khối cho lò hơi và hệ thống đồng phát, cũng như điện mặt trời tại nhà máy mới.
Các khoản đầu tư này cần vốn ban đầu đáng kể và thời gian hoàn vốn dài hơn, trong khi doanh nghiệp vẫn phải duy trì hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.
| |
Ông Nguyễn Hữu Tú, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần MIZA - Ảnh: Chí Cường |
Theo ông Tú, doanh nghiệp phải kết hợp nhiều nguồn lực, từ vốn chủ sở hữu đến tín dụng ngân hàng và các công cụ tài chính phù hợp.
Ông cũng cho biết, khoản vay xanh từ Agribank có mức lãi suất thấp hơn khoảng 2 điểm phần trăm so với mặt bằng thị trường.
Đây là một lợi thế đối với doanh nghiệp, song ưu đãi về lãi suất không thể thay thế yêu cầu về hiệu quả đầu tư và khả năng tạo dòng tiền.
Bởi vậy, bài toán mở rộng vốn xanh không đơn thuần là tăng thêm dư nợ hay đưa ra các gói vay ưu đãi. "Thị trường cần có nhiều lựa chọn tài chính hơn, đồng thời phải bảo đảm dự án đủ năng lực hấp thụ vốn và chứng minh được hiệu quả kinh tế, môi trường trong suốt quá trình triển khai", ông Tú nói.
Thị trường carbon cần tạo tín hiệu giá đủ tin cậy
Thị trường carbon được kỳ vọng tạo thêm động lực kinh tế cho hoạt động giảm phát thải, nhưng để tín chỉ trở thành nguồn thu có thể tính toán trong phương án tài chính, doanh nghiệp cần biết rõ điều kiện giao dịch, quy trình xác minh và giá trị kinh tế có thể thu được.
Ông Phạm Văn Hoành, Tổng Biên tập Báo Tài chính - Đầu tư, cho rằng thị trường cần thanh khoản, dữ liệu tin cậy và cơ chế xác minh để củng cố niềm tin giữa bên mua, bên bán.
Theo ông Đặng Tài An Trang, Phó tổng giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX), hiệu quả thị trường không nên chỉ đo bằng quy mô giao dịch ban đầu, mà còn ở khả năng hình thành tín hiệu giá giúp doanh nghiệp cân nhắc đầu tư giảm phát thải.
| |
| Ông Đặng Tài An Trang, Phó tổng Giám đốc VNX phát biểu tại Hội thảo "Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh” - Ảnh: Chí Cường |
Ông Trang nhấn mạnh yêu cầu về hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm tra phát thải (MRV), chất lượng tín chỉ và minh bạch thông tin. Đây cũng là yếu tố liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu trước những chính sách xanh như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu.
Về thị trường vốn, VNX cho rằng trái phiếu xanh có thể là hướng phát triển cần xem xét; trong khi đó, việc xây dựng các chỉ số xanh đòi hỏi tiêu chí rõ ràng và dữ liệu ESG có khả năng kiểm chứng.
Theo Ngân hàng Thế giới, thế giới có 87 chính sách định giá carbon trực tiếp đang vận hành, bao phủ hơn 29% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu và tạo nguồn thu hơn 107 tỷ USD trong năm 2025.
Con số này phản ánh quy mô nguồn thu từ các cơ chế định giá carbon, không đồng nghĩa với dòng vốn tự động chảy vào các dự án xanh.
Với Việt Nam, thị trường carbon chỉ có thể bổ trợ hiệu quả cho tín dụng ngân hàng và trái phiếu xanh khi chất lượng tín chỉ, dữ liệu và cơ chế giao dịch đủ minh bạch để doanh nghiệp, ngân hàng và nhà đầu tư đánh giá được giá trị kinh tế thực chất.