Chuyển đổi xanh, cần một hệ sinh thái tài chính đủ mạnh

(ĐTCK) Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu ngày càng bắt buộc đối với doanh nghiệp, đặc biệt trong các ngành sản xuất, xuất khẩu và tái chế. Tuy nhiên, để biến mục tiêu giảm phát thải thành những dự án cụ thể, doanh nghiệp không chỉ cần quyết tâm đầu tư công nghệ, mà còn cần một hệ sinh thái tài chính đủ rộng, trong đó tín dụng xanh, trái phiếu xanh, thị trường carbon và các công cụ hỗ trợ kỹ thuật phải được kết nối đồng bộ.
Các chuyên gia tham dự Hội thảo do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức ngày 14/10 vừa qua đã chia sẻ nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn xanh, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững

Nhu cầu vốn xanh rất lớn

Tại Hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh” do Báo Tài chính - Đầu tư tổ chức ngày 14/10 vừa qua, nhiều ý kiến cho rằng, bài toán lớn nhất trong việc khơi thông dòng vốn vào lĩnh vực chuyển đổi xanh, thúc đẩy phát triển bền vững hiện nay không chỉ là xây dựng thị trường carbon, mà là hình thành một hệ sinh thái đủ mạnh để thị trường có hàng hóa, có thanh khoản, có dữ liệu đáng tin cậy, có cơ chế định giá và có dòng vốn đồng hành trong suốt vòng đời của dự án.

Việc thị trường carbon trong nước đi vào vận hành thí điểm từ ngày 29/6/2026 đánh dấu một bước tiến mới của Việt Nam trên lộ trình chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp. Tuy nhiên, sự ra đời của một thị trường mới không đồng nghĩa với việc các dòng vốn xanh lập tức được khơi thông.

Đằng sau sự vận hành của sàn giao dịch carbon là cả một hệ thống, gồm doanh nghiệp tạo ra kết quả giảm phát thải, tổ chức đo lường và xác minh, ngân hàng cung cấp vốn, thị trường chứng khoán huy động nguồn lực dài hạn, các đơn vị tư vấn, tổ chức đánh giá, cơ quan quản lý và những bên mua tín chỉ. Khi các mắt xích này vận hành đồng bộ, kết quả giảm phát thải mới có thể chuyển hóa thành giá trị tài chính và trở thành động lực thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho các dự án xanh.

Quy mô vốn cần thiết cho quá trình chuyển đổi xanh đang tạo ra áp lực lớn đối với nền kinh tế. Theo ông Bùi Minh Giáp, Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, Việt Nam ước tính cần khoảng 368 tỷ USD vốn đầu tư bổ sung cho thích ứng biến đổi khí hậu, nâng cao khả năng chống chịu và giảm phát thải đến năm 2040, tương đương khoảng 6,8% GDP mỗi năm. Trong tổng nhu cầu này, riêng lĩnh vực thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng chống chịu cần khoảng 254 tỷ USD, trong khi nhu cầu đầu tư cho giảm phát thải khoảng 114 tỷ USD. Riêng ngành điện, Quy hoạch điện VIII điều chỉnh ước tính cần khoảng 136 tỷ USD để đầu tư phát triển nguồn và lưới điện trong giai đoạn 2026 - 2030.

Những con số trên cho thấy chuyển đổi xanh không còn là câu chuyện riêng của một số doanh nghiệp, hay một vài ngành có mức phát thải cao. Đây là quá trình đòi hỏi nguồn lực lớn trên phạm vi toàn nền kinh tế, từ năng lượng, giao thông, sản xuất công nghiệp đến nông nghiệp, xử lý chất thải và hạ tầng…

Trong bối cảnh đó, tín dụng ngân hàng vẫn là một trong những nguồn vốn quan trọng. Tuy nhiên, vốn ngân hàng khó có thể trở thành nguồn lực duy nhất cho quá trình chuyển đổi có quy mô và thời gian kéo dài như vậy.

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh cho rằng, tín dụng xanh có vai trò cung cấp vốn cho đầu tư, đổi mới công nghệ, phát triển các ngành, lĩnh vực xanh và tạo ra kết quả giảm phát thải. Chính kết quả giảm phát thải từ những dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ngân hàng có thể trở thành cơ sở và hàng hóa cho sự phát triển của thị trường carbon. Đây là mối quan hệ có tính hai chiều. Tín dụng xanh tạo nguồn lực ban đầu để doanh nghiệp thực hiện các dự án giảm phát thải. Ngược lại, khi thị trường carbon vận hành hiệu quả, kết quả giảm phát thải có thể tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ dòng tiền và giảm áp lực lên nguồn vốn tín dụng.

Số liệu được ông Cảnh chia sẻ, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng xanh đạt trên 856.000 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025. Giai đoạn 2017 - 2025, tín dụng xanh tăng bình quân trên 20% mỗi năm. Dư nợ tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học (chiếm trên 31%), cùng với năng lượng xanh (chiếm gần 28%). Dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 6,2 triệu tỷ đồng, tương đương hơn 31,33% tổng dư nợ toàn nền kinh tế.

Những con số này cho thấy dòng vốn xanh đã hình thành quy mô đáng kể. Tuy nhiên, bài toán tiếp theo là làm thế nào để nguồn vốn đó kết nối với các dự án tạo ra kết quả giảm phát thải thực chất, đồng thời tạo điều kiện để kết quả giảm phát thải được định lượng, xác minh và chuyển hóa thành nguồn lực tài chính. Đây chính là khoảng giao thoa giữa tín dụng xanh và thị trường carbon.

Dư nợ tín dụng xanh hiện mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học

Doanh nghiệp cần nguồn vốn dài hạn cho chuyển đổi xanh

Thực tế từ doanh nghiệp cho thấy, đầu tư xanh thường đòi hỏi suất đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài và yêu cầu cao hơn về dữ liệu, đo lường, kiểm định. Đây cũng là lý do bài toán vốn vẫn là một trong những điểm nghẽn lớn trên hành trình chuyển đổi xanh.

Với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tái chế, chuyển đổi xanh không còn là câu chuyện mang tính lựa chọn mà gắn trực tiếp với mô hình sản xuất. Ông Nguyễn Hữu Tú, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần MIZA cho biết, là một doanh nghiệp ngành giấy và bao bì, Công ty xác định hoạt động tái chế phải hướng tới mô hình kinh tế tuần hoàn, trong đó nguyên liệu được sử dụng tuần hoàn và chất thải tiếp tục trở thành đầu vào cho quá trình sản xuất. MIZA đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải, lò hơi và từng bước chuyển đổi nguồn năng lượng sử dụng trong sản xuất. Thay vì phụ thuộc vào các loại nhiên liệu truyền thống, doanh nghiệp sử dụng Biomass và định hướng phát triển công nghệ lò hơi phát điện để chủ động hơn về năng lượng, đồng thời giảm lượng điện lấy từ lưới điện quốc gia. Hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ vi sinh cũng được triển khai nhằm giảm phát thải ra môi trường.

Tuy nhiên, phía sau quyết tâm chuyển đổi là bài toán vốn không đơn giản. Theo ông Tú, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa việc lựa chọn công nghệ hiện đại, suất đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài với những phương án có chi phí thấp hơn và khả năng thu hồi vốn nhanh hơn. Sau nhiều trăn trở, lãnh đạo MIZA quyết định đầu tư công nghệ với suất đầu tư cao hơn, bởi doanh nghiệp xác định trách nhiệm xã hội và giảm phát thải là một phần trong định hướng phát triển. Để bù đắp chi phí đầu tư, Công ty hướng tới những sản phẩm có chất lượng cao hơn, phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp FDI và phân khúc thị trường có khả năng chấp nhận mức giá tương xứng.

Khó khăn lớn hơn xuất hiện ở giai đoạn đầu triển khai, khi doanh nghiệp chưa thể ngay lập tức tiếp cận các nguồn vốn xanh với điều kiện ưu đãi. MIZA phải huy động vốn từ cổ đông, đồng thời làm việc với các tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư và đối tác có cùng định hướng về chuyển đổi xanh.

Ông Tú chia sẻ, quá trình này đòi hỏi doanh nghiệp phải chứng minh hiệu quả của công nghệ, giải thích khả năng giảm phát thải cũng như thuyết phục bên cấp vốn về triển vọng dài hạn của dự án. Sau quá trình đầu tư ban đầu, MIZA đã tiếp cận được tín dụng xanh và trái phiếu xanh, trong đó có khoản tín dụng xanh từ BIDV với lãi suất tốt hơn mặt bằng chung mà doanh nghiệp đang tiếp cận.

Câu chuyện của MIZA cho thấy, tín dụng xanh có thể tạo ra lợi thế đáng kể cho doanh nghiệp, nhưng để tiếp cận được dòng vốn này, doanh nghiệp phải đi qua một quá trình chuẩn bị dài với không ít thách thức.

Nhận diện điểm nghẽn, khơi thông dòng vốn xanh

Một trong những vấn đề lớn nhất của thị trường tài chính xanh Việt Nam hiện nay là khoảng cách giữa nhu cầu vốn và khả năng đáp ứng điều kiện vay vốn của doanh nghiệp.

Theo TS. Nguyễn Thị Thu Hà, Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó ban Chỉ đạo ESG Agribank, có ba điểm nghẽn đáng chú ý với dòng vốn xanh.

Điểm nghẽn đầu tiên là năng lực chuẩn bị dự án. Một dự án xanh không chỉ cần chứng minh hiệu quả sản xuất - kinh doanh mà còn phải xác định được mục tiêu giảm phát thải, công nghệ sử dụng, khả năng đo lường và phương án đáp ứng các yêu cầu về môi trường. Điều này khiến quá trình chuẩn bị dự án phức tạp hơn so với một dự án đầu tư thông thường. Nếu dự án không được chuẩn bị đầy đủ ngay từ đầu, doanh nghiệp có thể khó tiếp cận vốn hoặc kết quả giảm phát thải thực tế thấp hơn kỳ vọng.

Điểm nghẽn thứ hai liên quan đến dữ liệu phát thải. Để xác định lượng phát thải được cắt giảm, doanh nghiệp cần có dữ liệu về hoạt động sản xuất, nguyên liệu đầu vào, mức tiêu thụ năng lượng và những tác động phát sinh trong chuỗi cung ứng. Với doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng quốc tế, yêu cầu dữ liệu còn mở rộng đến các nguồn phát thải gián tiếp. Khi đó, dữ liệu không còn nằm trong phạm vi một doanh nghiệp, mà liên quan đến nhà cung ứng, nhà sản xuất, đơn vị vận chuyển và nhiều chủ thể khác.

Dữ liệu phải được thu thập nhất quán, có khả năng kiểm chứng và đáp ứng các yêu cầu về môi trường, xã hội và quản trị. Trong khi đó, doanh nghiệp còn phải chịu chi phí cho việc đo lường, báo cáo, thẩm định và thuê tổ chức độc lập xác minh kết quả. Đây là những khoản chi phí phát sinh trước khi tín chỉ carbon đủ điều kiện hoàn tất thủ tục và đưa ra thị trường.

Điểm nghẽn thứ ba là doanh thu từ tín chỉ carbon chưa có độ chắc chắn cao. Từ khi hình thành ý tưởng, triển khai dự án cho đến khi tạo ra tín chỉ đủ điều kiện giao dịch là một quá trình kéo dài. Trong khoảng thời gian đó, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều biến số: lượng tín chỉ thực tế được xác nhận, giá bán, khả năng tìm người mua và điều kiện thanh toán. Đối với dự án cần vốn đầu tư lớn, sự bất định này khiến việc xây dựng phương án tài chính trở nên khó khăn. Đây cũng là lý do ngân hàng không thể đơn giản coi doanh thu từ tín chỉ carbon là một dòng tiền chắc chắn khi thẩm định khoản vay.

Ông Trần Anh Quý, Phó Vụ trưởng Vụ tín dụng, Ngân hàng Nhà nước cho rằng, việc phát triển thị trường dữ liệu và tăng cường chia sẻ thông tin có thể hỗ trợ ngân hàng trong quá trình thẩm định, xét duyệt tín dụng xanh. Khi doanh nghiệp chủ động xác định mục tiêu chuyển đổi xanh và chuẩn bị phương án đầu tư ngay từ đầu, khả năng tiếp cận vốn và hiệu quả sử dụng vốn sẽ được cải thiện.

Vấn đề này cũng liên quan trực tiếp đến thị trường chứng khoán. Ông Đặng Tài An Trang, Phó tổng giám đốc Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam (VNX) cho biết, trong giai đoạn đầu, việc phát triển trái phiếu xanh có thể thuận lợi hơn so với xây dựng các tiêu chí nhận diện cổ phiếu xanh. Lý do là trái phiếu xanh gắn với mục đích sử dụng vốn cho những dự án hoặc hoạt động đáp ứng tiêu chí môi trường, trong khi việc xác định một doanh nghiệp có thực sự xanh hay không đòi hỏi đánh giá toàn diện hoạt động sản xuất - kinh doanh.

Vì vậy, phát triển các công cụ nhận diện doanh nghiệp xanh cần gắn với việc nâng cao chất lượng thông tin và khả năng đánh giá của thị trường. Trên nền tảng bộ chỉ số ESG đã được đưa vào vận hành từ năm 2017, việc tiếp tục hoàn thiện các bộ chỉ số xanh chuyên sâu có thể hỗ trợ nhà đầu tư và các quỹ nhận diện doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, một hệ sinh thái mới có thể hình thành, doanh nghiệp cung cấp dữ liệu, tổ chức độc lập xác minh, ngân hàng sử dụng dữ liệu để thẩm định tín dụng, nhà đầu tư sử dụng dữ liệu để phân bổ vốn và thị trường carbon sử dụng dữ liệu để xác định chất lượng tín chỉ. Khi đó, dữ liệu không còn chỉ là yêu cầu tuân thủ mà trở thành hạ tầng của thị trường.

Từ thị trường carbon đến hệ sinh thái tài chính xanh

Việc đưa thị trường carbon trong nước vào vận hành từ ngày 29/6/2026 được đánh giá là dấu mốc quan trọng. Tuy nhiên, sàn giao dịch carbon chỉ là một phần của thị trường tài chính xanh. Ông Phạm Văn Hoành, Tổng Biên tập Báo Tài chính - Đầu tư nhấn mạnh, nếu sàn giao dịch carbon được xem là hạ tầng của thị trường thì chính sách tín dụng, hệ thống ngân hàng và thị trường vốn mới là những động lực quan trọng hỗ trợ quá trình chuyển đổi xanh.

Một thị trường carbon muốn phát triển bền vững cần nhiều hơn quy định giao dịch và hạ tầng kỹ thuật. Thị trường cần hàng hóa đủ chất lượng, thanh khoản, dữ liệu, cơ chế xác minh, niềm tin của người mua và người bán, đồng thời cần một hệ sinh thái tài chính đủ mạnh để hỗ trợ các chủ thể tham gia.

Theo ông Đặng Tài An Trang, Phó tổng giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX), quy mô giao dịch của thị trường carbon trong giai đoạn đầu còn tương đối nhỏ nhưng không nên chỉ dựa vào con số này để đánh giá thị trường. Điều quan trọng hơn là thị trường tạo ra tín hiệu về định hướng chuyển đổi xanh, từng bước hình thành cơ sở để doanh nghiệp đưa chi phí phát thải vào quyết định kinh doanh.

Ở góc độ tài chính, thị trường carbon cũng giống nhiều thị trường tài sản khác khi hoạt động dựa trên kỳ vọng. Nếu thị trường trái phiếu cần đường cong lãi suất để hỗ trợ định giá, thị trường carbon cũng cần tín hiệu giá đủ rõ để doanh nghiệp có thể tính toán chi phí phát thải, rủi ro tuân thủ và lợi ích của việc đầu tư giảm phát thải. Khi giá carbon trở thành một biến số có thể tính toán, doanh nghiệp sẽ có thêm cơ sở để so sánh giữa việc tiếp tục sử dụng công nghệ hiện tại và đầu tư công nghệ sạch hơn. Một khoản đầu tư xanh có thể có suất đầu tư ban đầu cao hơn, nhưng nếu giúp doanh nghiệp giảm tiêu thụ năng lượng, giảm phát thải và tạo ra tín chỉ carbon, hiệu quả kinh tế dài hạn có thể được cải thiện. Ngược lại, nếu tín chỉ không có tiêu chuẩn rõ ràng, quyền sở hữu không minh bạch, giá cả thiếu cơ sở tham chiếu hoặc thanh khoản thấp, doanh nghiệp khó đưa doanh thu carbon vào phương án tài chính một cách đáng tin cậy.

Bởi vậy, nền tảng của thị trường không chỉ là nơi giao dịch, mà còn là chất lượng hàng hóa và mức độ tin cậy của toàn bộ quy trình tạo ra hàng hóa đó. Hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV), vì vậy, giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Theo lãnh đạo VNX, cần bảo đảm chất lượng hạn ngạch, tín chỉ carbon đưa vào giao dịch; đồng thời, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy định công bố thông tin và cơ chế giám sát để phòng ngừa hành vi thao túng thị trường. Nếu thiếu những điều kiện này, thị trường có nguy cơ xuất hiện tình trạng “tẩy xanh”, khi một hoạt động hoặc doanh nghiệp được tạo ấn tượng là thân thiện với môi trường nhưng không có đủ cơ sở chứng minh.

Khi đó, không chỉ bên mua tín chỉ chịu rủi ro, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của toàn bộ thị trường. Một trong những yêu cầu quan trọng nhất hiện nay là tạo sự liên kết giữa các thị trường, thay vì phát triển từng cấu phần một cách riêng lẻ.

“Khi có tín hiệu giá carbon đáng tin cậy, doanh nghiệp có thể lượng hóa tốt hơn chi phí phát thải, rủi ro tuân thủ và lợi ích kinh tế của đầu tư công nghệ giảm phát thải. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng với các dự án có thời gian đầu tư và thu hồi vốn dài”, ông Đặng Tài An Trang nhấn mạnh.

Khuyến nghị được ông Bùi Minh Giáp đưa ra, muốn khơi thông dòng vốn xanh, Việt Nam cần hoàn thiện thể chế song hành với phát triển thị trường carbon và tài chính xanh. Chất lượng chính sách và hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng và các bên tham gia thị trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, chi phí và khả năng tiếp cận vốn. Những điều kiện nền tảng gồm: trước hết và trên hết là một bộ tiêu chí chuẩn cho hoạt động xanh và hoạt động chuyển đổi; sau đó là cơ sở dữ liệu phát thải có độ tin cậy cao; dự án được chuẩn kỹ lưỡng và cơ chế phân bổ rủi ro phù hợp.

Theo ông Giáp, cần phân định rõ trách nhiệm soạn thảo, quản lý, giám sát và vận hành hệ thống, tăng cường phối hợp liên ngành và liên ngân hàng; đồng thời, nâng cao năng lực thẩm định tín dụng xanh và tín dụng chuyển đổi của các tổ chức tín dụng.

“Thể chế hoàn chỉnh sẽ giúp thị trường vận hành với mức độ tin cậy cao hơn, chi phí giao dịch thấp hơn và dòng vốn đến các dự án có tính khả thi cao hơn”, ông Giáp nhìn nhận.

Các chính sách môi trường trên thế giới đang tạo ra sức ép mới đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh trong nước, trong đó có Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon của Liên minh châu Âu. Với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, chủ động giảm phát thải trong nước không chỉ giúp giảm chi phí tuân thủ, mà còn góp phần giữ lại nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Động lực chuyển đổi vì thế đến từ cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Một mặt là yêu cầu pháp lý và các cam kết quốc tế; mặt khác là sức ép từ khách hàng, nhà đầu tư và chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp sẽ ngày càng phải tính toán phát thải như một yếu tố trong bài toán chi phí sản xuất và cạnh tranh. Thị trường carbon nếu vận hành hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp chuyển từ cách tiếp cận “chi phí môi trường” sang “giá trị kinh tế của giảm phát thải”. Đây chính là ý nghĩa lớn hơn của thị trường carbon.

Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh đánh giá, khi thị trường carbon vận hành hiệu quả, kết quả giảm phát thải có thể được chuyển hóa thành nguồn lực tài chính cho chính doanh nghiệp. Theo đó, sự phát triển của thị trường carbon có thể góp phần giảm áp lực lên nguồn vốn tín dụng xanh. Thay vì phần lớn nhu cầu vốn cho chuyển đổi phải dựa vào vốn tự có, ngân sách hoặc tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp có thêm khả năng tạo nguồn lực từ chính kết quả giảm phát thải của mình. Về dài hạn, điều này góp phần đa dạng hóa nguồn tài chính cho chuyển đổi xanh, giảm mức độ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, tạo điều kiện để nguồn vốn tín dụng được phân bổ hiệu quả hơn.

Việt Nam cần một thị trường carbon minh bạch, nhưng đồng thời cần một hệ sinh thái tài chính đủ sâu và đủ dài hạn.

Thúc đẩy hoạt động xanh cần sự chung tay của nhiều bộ, ngành

Ông Đỗ Thanh Lâm, Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính

Việc thúc đẩy chuyển đổi xanh, giảm phát thải, cần sự chung tay của nhiều bộ, ngành, trong đó Bộ Tài chính đóng vai trò chủ trì. Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam đã đặt ra những định hướng lớn cho quá trình hình thành thị trường carbon, gắn với mục tiêu thực hiện cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Sau khi Đề án được ban hành, nhiều nhiệm vụ đã được triển khai và trong khoảng hai năm, hệ thống văn bản chính sách liên quan đã được xây dựng với số lượng đáng kể.

Đầu tư công nghệ xanh, cần tầm nhìn dài hạn

Ông Nguyễn Hữu Tú, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần MIZA

Áp lực lớn nhất đối với doanh nghiệp khi triển khai dự án chuyển đổi xanh là đầu tư nguồn vốn ban đầu đáng kể, trong khi hiệu quả kinh tế của dự án có thể cần nhiều năm mới thể hiện rõ. Vì vậy, để chuyển đổi xanh thực sự trở thành động lực tăng trưởng, doanh nghiệp cần một hệ sinh thái tài chính đa dạng, trong đó tín dụng xanh, trái phiếu xanh và các nguồn vốn đầu tư có cùng tầm nhìn sẽ đóng vai trò quan trọng.

Với MIZA, lựa chọn đầu tư cho công nghệ xanh đồng nghĩa chấp nhận một hành trình dài hơi và nhiều thách thức. Nhưng đây cũng được xem là khoản đầu tư cần thiết để vừa nâng cao hiệu quả sản xuất, vừa đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn.

Doanh nghiệp cần thay đổi nhận thức về chuyển đổi xanh

Ông Trần Anh Quý, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước

Dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng bình quân 20%/năm, đây là tốc độ tăng trưởng lớn. Tuy nhiên, điểm nghẽn hiện nay nằm ở khâu thẩm định, khi các dự án xanh đòi hỏi tiêu chí chặt chẽ hơn so với khoản vay thương mại thông thường.

Dù có những khó khăn nhất định với các doanh nghiệp, dự án chuyển đổi xanh trong việc đáp ứng các tiêu chí tiếp cận dòng vốn xanh, nhưng lợi thế lớn của việc tiếp cận được dòng vốn xanh không chỉ nằm ở lãi suất ưu đãi, mà còn đi kèm với việc được hỗ trợ kỹ thuật, giúp doanh nghiệp đầu tư công nghệ thân thiện môi trường, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả dài hạn. Vì vậy, doanh nghiệp cần thay đổi nhận thức, coi chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu, mà là lợi ích lâu dài của doanh nghiệp.

Bốn yếu tố nhà đầu tư cân nhắc khi rót vốn vào dự án xanh

Ông Nguyễn Thanh Nghị, Tổng giám đốc Thiên Minh Rating

Trong quá trình đánh giá của tổ chức xếp hạng, chúng tôi nhận thấy có 4 điểm nhà đầu tư cân nhắc khi rót vốn vào các dự án xanh.

Thứ nhất, về kỹ thuật, dự án xanh có công nghệ riêng để thực hiện mục tiêu xanh, công nghệ này còn mới trên thị trường. Các doanh nghiệp sẽ phải dành nhiều thời gian thuyết phục nhà đầu tư về hiệu năng của công nghệ với môi trường.

Thứ hai, về mặt tài chính, dự án phải tạo ra dòng tiền. Sản phẩm xanh có chi phí sản xuất cao hơn, doanh nghiệp phải định vị sản phẩm với giá cao và đối mặt với bài toán liệu khách hàng có sẵn sàng đón nhận sản phẩm đó hay không.

Thứ ba là chính sách ưu đãi. Tất cả các mô hình tài chính của dự án xanh lồng trong đó là ưu đãi chính sách, do vậy, rủi ro biến động chính sách là mối quan tâm lớn của các nhà đầu tư.

Thứ tư là kinh nghiệm thực thi. Doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn giải quyết bài toán xây dựng quy trình, xem xét chuỗi cung ứng, các nhà đầu tư xem xét doanh nghiệp có đủ khả năng triển khai hay không.

Cần thúc đẩy liên kết giữa thị trường carbon và tài chính xanh

Ông Trần Đình Bính, Cán bộ Chương trình, Hợp phần Cải cách Khu vực Tài chính Xanh, GIZ

Thị trường carbon và các công cụ tài chính xanh có thể bổ trợ lẫn nhau, tạo nguồn lực cho doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi xanh. Hơn 10 năm qua, GIZ đã phối hợp với các cơ quan Việt Nam phát triển những công cụ tài chính xanh cốt lõi như tín dụng xanh và trái phiếu xanh. Đến nay, tín dụng xanh đã đạt quy mô hàng chục tỷ USD, trong khi thị trường carbon đang từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý và chuyển sang giai đoạn giao dịch thực tế, dù quy mô giao dịch còn khiêm tốn. Hai thị trường vẫn chưa có sự kết nối đầy đủ.

Để thúc đẩy liên kết hai thị trường này, cần tập trung vào ba vấn đề. Thứ nhất, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và tổ chức tài chính, giúp xác minh kết quả giảm phát thải đáng tin cậy, giảm chi phí thẩm định, rủi ro và chi phí vốn. Thứ hai, phát triển các sản phẩm tài chính gắn với hiệu quả giảm phát thải, như trái phiếu chuyển đổi và các khoản vay có điều kiện dựa trên kết quả thực hiện mục tiêu bền vững. Thứ ba, cần nghiên cứu cơ chế để tổ chức tín dụng tính đến dòng tiền dự kiến từ hoạt động giảm phát thải và tín chỉ carbon khi thẩm định, cấp vốn cho dự án.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, có thể huy động vốn trước khi doanh thu carbon phát sinh, nếu dự án có phương án giảm phát thải khả thi và dòng tiền được dự báo đủ tin cậy. Đây là hướng đi Việt Nam có thể nghiên cứu, thí điểm và từng bước mở rộng nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp chuyển đổi xanh.

Hải Minh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục