Ảnh: Reuters
Hơn sáu năm sau khi dịch COVID-19 bùng phát, nhiều quốc gia ở châu Á và Thái Bình Dương vẫn đang phải đối phó với những ảnh hưởng lâu dài về sức khỏe, kinh tế và xã hội của cuộc khủng hoảng. Hệ thống y tế đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực có tay nghề và dịch vụ bị gián đoạn, trong khi các chính phủ phải vật lộn với nợ nần gia tăng và áp lực tài chính dài hạn.
Tình trạng bất ổn kinh tế gần đây, viện trợ phát triển bị cắt giảm và các ưu tiên chi tiêu cạnh tranh đang gây thêm áp lực lên ngân sách y tế công cộng.
Trong bối cảnh đó, nguy cơ khu vực này bị ảnh hưởng bởi một đại dịch mới và không được chuẩn bị tốt hơn so với COVID-19 đang ngày càng gia tăng. Và các đợt bùng phát dịch bệnh trong tương lai có thể tàn phá không kém gì COVID-19, đặc biệt là ở một khu vực nơi nhiều người vẫn đang phải vật lộn để tiếp cận các dịch vụ y tế cơ bản.
Đại dịch cũng mang lại những bài học quý giá về những gì hiệu quả và những gì không hiệu quả - từ việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai vắc-xin đến việc tăng cường hệ thống y tế và hỗ trợ các biện pháp ứng phó khẩn cấp hiệu quả hơn.
Khi làm việc với các chính phủ, nhà nghiên cứu và các đối tác khác, chúng tôi nhận thấy ba chủ đề liên tục được nhấn mạnh đó là: Sự cần thiết phải kết nối các quyết định về y tế và tài chính; giá trị của hợp tác khu vực; tầm quan trọng của nguồn tài trợ nhanh chóng và đáng tin cậy trong thời kỳ khủng hoảng.
![]() |
Ông Eduardo Banzon, Giám đốc Văn phòng phụ trách ngành Y tế, Phát triển Con người và Xã hội, Vụ Các chuyên ngành, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) |
Thứ nhất, công tác chuẩn bị ứng phó đại dịch cần được lồng ghép vào chính sách và ngân sách y tế hàng ngày, chứ không phải là những hoạt động riêng lẻ hoặc chỉ diễn ra một lần. Các đối tác phát triển, đặc biệt là các ngân hàng phát triển đa phương, cũng cần đảm bảo rằng các loại hỗ trợ khác nhau của họ - vay vốn, tài trợ và tư vấn kỹ thuật - trực tiếp củng cố công tác bảo vệ sức khỏe chung, chẳng hạn như an ninh y tế và công tác chuẩn bị và ứng phó đại dịch.
Bộ Y tế và Bộ Tài chính cùng quan tâm đến việc đầu tư vào các hệ thống y tế vững mạnh và hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân, bởi vì cả hai đều đóng vai trò trung tâm trong việc bảo vệ người dân và nền kinh tế khi khủng hoảng xảy ra. Hệ thống y tế yếu kém sẽ dễ bị ảnh hưởng. Hệ thống mạnh mẽ có thể duy trì các dịch vụ thiết yếu, phát hiện dịch bệnh sớm hơn và thích ứng nhanh hơn khi nhu cầu tăng cao.
Thứ hai, các phương pháp tiếp cận khu vực đang trở nên không thể thiếu khi các mối đe dọa sức khỏe ngày càng phức tạp này vượt qua biên giới nhanh hơn bao giờ hết. Xây dựng lòng tin, chia sẻ dữ liệu và cải thiện hợp tác về quy định và sản xuất y tế có thể giúp các quốc gia ứng phó nhanh hơn và đảm bảo tiếp cận công bằng hơn với vắc-xin, phương pháp điều trị và công cụ chẩn đoán. Trong đại dịch COVID-19, việc mua sắm phân tán, sự chậm trễ trong quy định và năng lực sản xuất hạn chế đã hạn chế khả năng tiếp cận vắc-xin đối với nhiều quốc gia.
Các cơ chế như Cơ chế Tiếp cận Vắc xin châu Á - Thái Bình Dương (APVAX) đã hỗ trợ phân phối hơn 675 triệu liều vắc xin COVID-19, cho thấy cách thức tài trợ đa phương và quan hệ đối tác có thể đẩy nhanh quá trình tiếp cận khi các quốc gia đang đối mặt với nhu cầu cấp thiết. Trong tương lai, các phương pháp tiếp cận khu vực nhằm cải thiện sự phối hợp và chia sẻ thông tin có thể giúp giảm bớt những khoảng cách này.
Cuối cùng, tiền bạc vẫn là yếu tố then chốt. Sự chậm trễ trong việc cấp vốn gây thiệt hại về người và làm trầm trọng thêm tình trạng kinh tế. Nguồn tài trợ cho các trường hợp khẩn cấp về y tế cần phải có tính dự đoán được, linh hoạt và phù hợp với hệ thống của từng quốc gia. Các quốc gia cần tiếp cận với quỹ “ngày đầu tiên” - nguồn lực có thể được giải ngân ngay khi khủng hoảng xảy ra - để mua vật tư, trả lương cho nhân viên khẩn cấp và duy trì hoạt động của các dịch vụ.
![]() |
Ông Scott Morris, Phó Chủ tịch phụ trách Đông và Đông Nam Á và khu vực Thái Bình Dương, ADB |
Những quỹ này phải được quản lý tốt, với các quy tắc rõ ràng và sự giám sát chặt chẽ. Các phương pháp tiếp cận mới nhằm thu hút khu vực tư nhân có thể giúp giải phóng thêm nguồn lực để cho phép hệ thống y tế đối phó với sự gia tăng đột ngột về nhu cầu. Theo thời gian, mục tiêu nên là chuyển từ hỗ trợ phản ứng, đơn lẻ sang các khoản đầu tư ổn định được tích hợp vào ngân sách quốc gia và khuôn khổ khu vực.
Với những bài học này, công tác chuẩn bị và ứng phó với đại dịch cần được đặt ngang hàng với các ưu tiên khác trong chương trình nghị sự về khả năng phục hồi của khu vực. Châu Á - Thái Bình Dương phải đối mặt với những cú sốc thường xuyên hơn và liên kết chặt chẽ hơn, từ gián đoạn thương mại đến thiên tai và khủng hoảng năng lượng. Các quốc gia trong khu vực không thể chỉ chuyển từ tình trạng khẩn cấp này sang tình trạng khẩn cấp khác mà không xây dựng các hệ thống mạnh mẽ và kiên cường hơn trong khoảng thời gian đó. Đầu tư vào việc chuẩn bị tốt hơn cho các trường hợp khẩn cấp về sức khỏe trong tương lai sẽ giúp xây dựng các xã hội an toàn hơn, công bằng hơn và thịnh vượng hơn trên toàn khu vực.

