Cầu vốn cuối năm tăng, lãi suất khó giảm

(ĐTCK) Nhu cầu vốn của doanh nghiệp tăng trong mùa kinh doanh cao điểm tiếp tục tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay.
Áp lực chi phí vốn của các nhà băng đã thẩm thấu sang phía cho vay

Cung - cầu vốn vẫn lệch pha

Theo báo cáo kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026 của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tính đến ngày 28/9/2026, tổng vốn huy động của các tổ chức tín dụng tăng 9,78% so với cuối năm 2025, trong khi tín dụng của nền kinh tế tăng 10,89%.

Cùng thời điểm này năm trước, hai mức tăng tương ứng là 9,99% và 13,37%.

Tại họp báo quý III/2026 diễn ra ngày 7/10 vừa qua, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Thanh Hà cho biết, tính đến ngày 30/9/2026, tổng dư nợ của hệ thống các tổ chức tín dụng đạt khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm trước.

Vụ Dự báo, Thống kê (NHNN) vừa công bố kết quả cuộc điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng (TCTD) quý IV/2026. Tại kỳ điều tra này, nhu cầu vay vốn của nhóm khách hàng tổ chức tiếp tục cao hơn nhóm khách hàng cá nhân; trong đó, nhu cầu vay vốn của nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhận định có dấu hiệu tăng rõ rệt. Nhóm ngân hàng quy mô nhỏ đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng tăng mạnh nhất trong quý III/2026. Trong quý IV và cả năm 2026, các TCTD kỳ vọng nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng sẽ tiếp tục cải thiện mạnh hơn so với dự kiến tại kỳ điều tra trước.

Tại kỳ điều tra lần này, các TCTD kỳ vọng huy động vốn sẽ có mức tăng trưởng bình quân 4,1% trong quý IV/2026, còn tín dụng tăng 5,3%. Cả năm, các TCTD kỳ vọng huy động vốn tăng 14,3% và tín dụng tăng 16,4%.

Tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn trong 9 tháng đầu năm khi nhu cầu vốn cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh tiếp tục gia tăng. Điều này đặt ra yêu cầu vừa mở rộng vốn cho tăng trưởng, vừa bảo đảm thanh khoản và phát triển thêm các kênh vốn trung, dài hạn với các TCTD. Nhu cầu vốn tiếp tục tăng cũng được đặt trong yêu cầu điều hành chung những tháng cuối năm. Kết luận Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chỉ rõ, điều hành kinh tế vĩ mô đang chịu áp lực, mặt bằng lãi suất còn tương đối cao; doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khó tiếp cận vốn, tín dụng.

Tăng trưởng GDP quý III đạt 9,95%, cao nhất trong 15 năm qua. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong cả năm, GDP quý IV phải tăng trên 12,5%. Để vừa đạt được mục tiêu tăng trưởng cao, vừa kiểm soát được lạm phát (chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng tăng 4,52%, cao hơn mục tiêu đề ra) là thách thức rất lớn với các bộ, ngành, đặc biệt là NHNN.

Áp lực lãi suất tăng dần về cuối năm

Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, NHNN cho hay, việc điều hành chính sách tiền tệ gặp nhiều áp lực do chính sách lãi suất trên thế giới thay đổi nhanh chóng. Trong nước, NHNN vừa phải thận trọng với lạm phát, vừa phải tìm các giải pháp hỗ trợ tăng trưởng.

Chia sẻ thêm về định hướng điều hành lãi suất, ông Quang cho biết, vừa qua, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã phát tín hiệu thắt chặt tiền tệ. Sau đợt tăng lãi suất lần đầu vào tháng 16/9 vừa qua, khả năng cao, Ngân hàng Trung ương Mỹ sẽ tiếp tục nâng lãi suất vào tháng 12 tới. Nhiều ngân hàng trung ương lớn trên thế giới cũng điều chỉnh tăng lãi suất trong thời gian qua để ứng phó với rủi ro lạm phát tăng trở lại. Chẳng hạn, ngày 10/9/2026, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) quyết định tăng các mức lãi suất chủ chốt thêm 0,25 điểm phần trăm. Ngày 18/9/2026, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) cũng quyết định nâng lãi suất điều hành từ 1%/năm lên 1,25%/năm, mức cao nhất trong 31 năm qua. Trong điều kiện mặt bằng lãi suất quốc tế tăng, Việt Nam không thể hoàn toàn đứng ngoài xu hướng chung. NHNN tiếp tục quản lý chặt chẽ lãi suất trong mối tương quan với tỷ giá, theo định hướng của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về việc tìm điểm cân bằng hợp lý giữa hai yếu tố này.

Thực tế, mặt bằng lãi suất huy động hiện neo ở mức cao, đạt trên mức 9%/năm cho kỳ hạn từ 6 - 12 tháng. Thậm chí, một số nhà băng còn phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi với lãi suất trên 10%/năm. PVcomBank gây chú ý với việc phát hành lô trái phiếu kỳ hạn 10 năm, tổng giá trị 200 tỷ đồng, lãi suất 10,5%/năm…

Chi phí đầu vào tăng khiến các ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất cơ sở, lãi suất tham chiếu, có nơi chạm 13,5%/năm. Cụ thể, từ ngày 1/10/2026, ACB áp dụng lãi suất cơ sở 9,5%/năm trên toàn hệ thống. So với mức 9,2%/năm được ngân hàng này công bố áp dụng từ ngày 1/8/2026, lãi suất cơ sở đã tăng 0,3%/năm. Đây là mức được sử dụng đối với các khoản vay có lãi suất tại kỳ tái định giá được tính theo biểu lãi suất cho vay của ACB.

VPBank ban hành biểu lãi suất cơ sở VND mới dành cho các khoản vay có tài sản bảo đảm của khách hàng cá nhân, có hiệu lực từ ngày 18/9/2026. Biểu lãi suất được chia theo thời điểm giải ngân, mục đích vay, thời hạn vay, chu kỳ điều chỉnh. Với các khoản vay bất động sản, tiêu dùng, ô tô, sản xuất - kinh doanh giải ngân sau ngày 15/11/2024, lãi suất cơ sở theo kỳ điều chỉnh một tháng nằm trong khoảng 11 - 13%/năm.

Nếu điều chỉnh lãi suất 3 tháng một lần, mức cơ sở dao động từ 11,8 - 13,5%/năm. Ở kỳ hạn vay 12 tháng, lãi suất cơ sở tại VPBank là 12,2%/năm nếu điều chỉnh hàng tháng và 12,7%/năm nếu điều chỉnh ba tháng. Với khoản vay trên 5 năm đến 10 năm, hai mức tương ứng là 12,9%/năm và 13,4%/năm. Đối với các khoản vay thuộc nhóm còn lại, biểu lãi suất cơ sở thấp hơn, từ 9,4%/năm cho thời hạn 1 tháng, lên 10,6%/năm ở thời hạn 12 tháng và 11,4%/năm với khoản vay trên 15 năm.

Techcombank công bố biểu lãi suất cơ sở/lãi suất tham chiếu mới áp dụng cho khách hàng cá nhân từ ngày 15/9/2026. Lãi suất cơ sở chuẩn đối với vay mua bất động sản, vay tiêu dùng thế chấp, mua ô tô cùng ở mức 9%/năm đối với khoản vay ngắn, trung, dài hạn. Riêng nhóm vay tiêu dùng tín chấp điều chỉnh theo lãi suất cơ sở chuẩn, thấu chi, MyCash/F2 hoặc vay trả góp, lãi suất cơ sở ở mức 13%/năm… Tại Vietbank, lãi suất cơ sở VND hiện ở mức 9,7%/năm đối với khoản vay đến 6 tháng, 10,3%/năm với khoản vay đến 12 tháng và 10,7%/năm cho các khoản vay trung, dài hạn trên 12 tháng. Mức 10,7%/năm cũng được dùng làm tham chiếu đối với một số khoản vay gắn với lãi suất tiền gửi tiết kiệm VND kỳ hạn 13 tháng.

Giới phân tích tài chính cho rằng, khi chi phí đầu vào tăng, dư địa duy trì lãi suất cho vay ở vùng thấp sẽ thu hẹp nếu ngân hàng muốn bảo vệ biên lãi ròng. Việc điều chỉnh lãi suất cơ sở hoặc lãi suất tham chiếu cho thấy áp lực chi phí vốn bắt đầu truyền sang phía cho vay, dù mức độ tác động không giống nhau giữa các ngân hàng. Song lãi suất cơ sở hay lãi suất tham chiếu không phải lãi suất cuối cùng mà người vay chắc chắn phải trả. Với các khoản vay thả nổi, lãi suất thực tế thường được xác định bằng lãi suất cơ sở hoặc tham chiếu cộng biên độ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Thời điểm tái định giá và chu kỳ điều chỉnh 1, 3, 6 hay 12 tháng cũng quyết định thời điểm mức lãi vay mới được áp dụng.

Đặc biệt, tác động rõ nhất sẽ rơi vào khách hàng vay mua nhà, mua ô tô, vay kinh doanh dài hạn đã hết thời gian ưu đãi và chuẩn bị đến kỳ điều chỉnh. Với khoản vay có dư nợ lớn, chỉ một thay đổi nhỏ của lãi suất tham chiếu cũng có thể làm số tiền lãi phải trả tăng đáng kể. Do đó, người vay cần kiểm tra lại hợp đồng tín dụng để xác định loại lãi suất tham chiếu đang áp dụng, biên độ cộng thêm, ngày tái định giá và cách ngân hàng xử lý khi lãi suất cơ sở thay đổi. Đây mới là những yếu tố quyết định nghĩa vụ trả nợ thực tế, thay vì chỉ nhìn vào mức lãi suất ưu đãi ban đầu.

Thùy Vinh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục