Cấp bách Khơi thông thị trường vốn

(ĐTCK) Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm Thiên Minh (Thien Minh Rating - TMR), cần xây dựng một cấu trúc tài chính cân bằng hơn giữa tín dụng ngân hàng và thị trường vốn. Đây sẽ là nền tảng để vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Ông Nguyễn Thanh Nghị, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm Thiên Minh (Thien Minh Rating - TMR)

Nửa đầu năm 2026 chứng kiến một thay đổi đáng chú ý trong điều hành tín dụng khi Ngân hàng Nhà nước liên tiếp ban hành các cơ chế hỗ trợ dòng vốn vào các dự án trọng điểm quốc gia, hạ tầng và nhà ở xã hội. Theo ông, sự thay đổi này phản ánh điều gì về tư duy phân bổ nguồn lực tài chính của Việt Nam trong giai đoạn tới?

Trước hết, sự thay đổi này xuất phát từ bối cảnh không còn nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng, do đó, việc ưu tiên các lĩnh vực được hưởng dòng vốn hạn hẹp gần như là điều bắt buộc.

Lựa chọn chiến lược của Ngân hàng Nhà nước vào các dự án trọng điểm, cơ sở hạ tầng và nhà ở xã hội đã nói lên ưu tiên hàng đầu là tạo ra tác động phát triển kinh tế theo chiều rộng và giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Các dự án thuộc nhóm ưu tiên này có thể không cho tỷ lệ lợi nhuận cao hay thu hồi vốn nhanh, nhưng rõ ràng, việc tập trung vào cơ sở hạ tầng sẽ có hiệu ứng lan tỏa đến các ngành khác của toàn bộ nền kinh tế. Hay việc ưu tiên phát triển nhà ở xã hội rõ ràng thể hiện mối quan tâm của Nhà nước đến các vấn đề an sinh xã hội, đồng thời cũng hy vọng góp phần điều tiết phần nào thị trường bất động sản đang phát triển quá nóng và quá lệch.

Việc ưu tiên tín dụng cho các dự án trọng điểm có thể tạo thêm động lực cho tăng trưởng, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với hệ thống ngân hàng. Đâu sẽ là những vấn đề mà các tổ chức tín dụng phải quan tâm khi dòng vốn ngày càng tập trung vào các dự án quy mô lớn và có thời gian thu hồi vốn dài?

Thời gian thu hồi vốn dài cũng đồng nghĩa rủi ro tăng, sự bất trắc của dòng tiền thu hồi vốn tăng lên. Đây là thách thức với ngành ngân hàng khi rót vốn vào những dự án này.

Đầu tiên, các ngân hàng cần cân đối giữa thời hạn nguồn vốn và thời hạn cho vay. Về nội tại, các ngân hàng cần rà soát lại danh mục cho vay để cân đối kỳ hạn, đồng thời gia tăng nguồn vốn dài hạn qua kênh thị trường vốn. Điều này cũng phù hợp với chính sách phát triển thị trường của Nhà nước trong vài năm tới. Về quản lý vĩ mô, các cơ quan điều hành có thể điều chỉnh một số chỉ số giám sát như tỷ lệ cho vay dài hạn trên huy động (SMLR), mở thêm dư địa cho các ngân hàng trong việc xét duyệt vốn vay cho các dự án trọng điểm, dự án hạ tầng.

Thứ hai là chất lượng tài sản, nói cách khác là khả năng trả nợ của dự án. Dự án càng dài, tính bấp bênh của dòng tiền càng lớn, làm tăng rủi ro thu hồi vốn. Ngân hàng chắc chắn cần xây dựng một quy trình thẩm định chặt chẽ hơn, có sự tham gia của các chuyên gia trong ngành hoạt động của dự án vay vốn.

Cuối cùng là phòng vệ, cần bổ sung các lớp đệm dự phòng vốn, đặc biệt là gia tăng tỷ lệ vốn cấp 1 để nâng cao khả năng chống chịu nội tại của ngân hàng.

Nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn nhưng ngân hàng đang phải gánh vai trò cung ứng vốn chủ đạo cho các dự án đầu tư dài hạn

Nếu như vài năm trước, thị trường đặc biệt quan tâm tới quy mô tín dụng và lợi nhuận của ngân hàng thì trong bối cảnh hiện nay, theo ông, điều gì mới là yếu tố được “định giá” cao nhất: tốc độ tăng trưởng, chất lượng tài sản, năng lực quản trị hay khả năng phân bổ vốn?

Tổng tài sản, hay khả năng sinh lãi là những chỉ số khá truyền thống trong việc đánh giá một ngân hàng và tất nhiên, vẫn là hai trong số những chỉ số quan trọng nhất. Tuy nhiên, với những gì diễn ra trong khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, khái niệm “quá lớn để sụp đổ” đã không còn đúng nữa. Quy mô tài sản đã không còn là chỉ số chi phối. Việc đánh giá ngân hàng hiện đã dựa trên một bộ chỉ số quản trị rủi ro hỗn hợp, trong đó nổi bật là đánh giá chất lượng tài sản và cơ cấu cân bằng giữa vốn và tài sản.

Để đánh giá chất lượng tài sản, cần nhìn vào phần bổ danh mục theo kỳ hạn cho vay, nhóm đối tượng khách hàng và ngành. Danh mục càng cân bằng, chất lượng tài sản càng cao. Tất nhiên, cũng có thể nhìn trực tiếp vào các con số tỷ lệ nợ xấu để đánh giá. Tuy nhiên, mức độ cân bằng của danh mục cung cấp thông tin định tính tốt về chất lượng tài sản trong tương lai.

Về cơ cấu cân bằng vốn và tài sản, chúng ta đã có khung Basel III làm định hướng. Các ngân hàng tuân thủ khung này đều có thể coi là quản trị tốt tính cân bằng của cơ cấu vốn và của vốn so với tài sản.

Một trong những tồn tại, hạn chế trên thị trường tài chính Việt Nam hiện nay là tình trạng bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp, ngân hàng và nhà đầu tư. Theo ông, giải pháp để khắc phục tình trạng này là gì?

Nếu xét mối quan hệ ngân hàng và doanh nghiệp trong hoạt động cho vay của ngân hàng thì vấn đề bất cân xứng thông tin không quá lớn. Ngân hàng vừa có sẵn nguồn lực và vị thế trong việc thu thập thông tin từ doanh nghiệp trước và trong quá trình cho vay, vừa có năng lực trong việc phân tích, đánh giá các thông tin này.

Vấn đề bất cân xứng thông tin trở nên trầm trọng hơn khi nhìn về thị trường vốn, nơi doanh nghiệp và nhà đầu tư liên hệ với nhau qua trung gian thị trường và việc cung cấp thông tin của doanh nghiệp hoàn toàn dựa trên các quy định. Ở đây, vai trò của xếp hạng tín nhiệm trong việc giảm khoảng cách bất cân xứng thông tin là khá quan trọng. Trước hết, báo cáo xếp hạng tín nhiệm là các báo cáo độc lập, có định hướng cung cấp các thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư. Nhiều dữ liệu của doanh nghiệp được thu thập, mổ xẻ, phân tích bởi một bên độc lập, nhằm cung cấp những thông tin xác đáng và có độ tin cậy cao cho các nhà đầu tư trong việc ra quyết định.

Tất nhiên, một báo cáo xếp hạng khoảng hơn chục trang không thể truyền tài hết những thông tin mà doanh nghiệp có, nhưng chắc chắn truyền tải những thông tin quan trọng và xác đáng nhất.

Nhìn xa hơn năm 2026, theo ông, thay đổi quan trọng nhất mà hệ thống tài chính Việt Nam cần thực hiện để vừa đáp ứng nhu cầu vốn rất lớn cho tăng trưởng, vừa bảo đảm an toàn và phát triển bền vững là gì?

Trong vài năm tới, bối cảnh kinh tế, địa chính trị toàn cầu có lẽ vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn. Do vậy, hệ thống tài chính trong nước cần đủ năng lực để tài trợ cho tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng cần chuẩn bị ứng phó đầy đủ với các yếu tố bất ổn từ bên ngoài.

Hiện thị trường tài chính đang khá mất cân đối, khi dòng vốn chủ yếu chảy qua kênh tín dụng ngân hàng, là kênh ngắn hạn. Ở tầm vĩ mô, điều này tạo rủi ro thanh khoản cho toàn hệ thống, tạo áp lực lạm phát và hạn chế tăng trưởng bền vững qua đầu tư hạ tầng. Ở tầm vi mô, việc doanh nghiệp sử dụng vốn ngắn hạn cho các dự án đầu tư dài hạn tiềm ẩn rủi ro mất cân đối dòng tiền.

Vì vậy, việc khơi thông dòng vốn trung dài hạn trên thị trường chứng khoán, ví dụ trái phiếu, gần như là lựa chọn duy nhất để tiếp tục đầu tư phát triển, khi mà kênh tín dụng không còn nhiều dư địa mở rộng. Đó là chưa kể, việc ưu tiên đầu tư vào các dự án trọng điểm và cơ sở hạ tầng không nên và không thể dựa vào kênh tín dụng.

Hệ thống ngân hàng cũng đối mặt với bài toán tương tự: cần tài trợ cho tăng trưởng, đồng thời chuẩn bị ứng phó bất ổn và đảm bảo an toàn hệ thống. Dù dư địa tăng trưởng tín dụng không còn nhiều, các ngân hàng vẫn có thể tự tạo dư địa thông qua việc tái cơ cấu danh mục khách hàng hay chuyển một phần dư nợ vay hiện tại sang kênh khác. Đây cũng là chiến lược phù hợp với vĩ mô. Về đảm bảo an toàn, hệ thống ngân hàng thực tế đã bắt đầu quá trình này từ nhiều năm nay, thông qua áp dụng khung Basel III. Các ngân hàng cần phải đảm bảo họ tiếp tục tuân thủ khung này và đây chỉ là điểm khởi đầu, vì khung Basel III chỉ đưa ra mức tối thiểu cần tuân thủ.

Tại mỗi thời kỳ, ngân hàng cần đưa ra các chiến lược ưu tiên, ví dụ như ưu tiên trong năm tới là thắt chặt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) và bổ sung các lớp đệm dự phòng vốn. Ngân hàng cần đong đếm mức an toàn cần thiết cho mình, căn cứ trên tình hình tăng trưởng và rủi ro danh mục của bản thân, chứ không chỉ dừng lại ở mức vừa đạt tuân thủ các chuẩn mực Basel.

Nhuệ Mẫn thực hiện.

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục