Cạn room tín dụng quý I

(ĐTCK) Tính đến đầu tháng 3, nhiều ngân hàng đã sử dụng hết “room” tín dụng của quý đầu năm.
Theo quy định, các nhà băng kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng mỗi quý không được vượt quá 25% chỉ tiêu cả năm

Sớm cạn room

Năm 2026, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng dựa trên kết quả chấm điểm xếp hạng năm 2024 của từng nhà băng. Theo đó, dư nợ tín dụng tối đa của tổ chức tín dụng tính đến ngày 31/12/2026 = Dư nợ tín dụng ngày 31/12/2025 + [(Điểm xếp hạng năm 2024 × 2,6%) × (Dư nợ tín dụng ngày 31/12/2025 - Dư nợ tín dụng vượt chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng NHNN thông báo năm 2025 (nếu có))] - Các khoản bán dư nợ tín dụng thực hiện bán trong năm 2026 và chưa thu tiền đến thời điểm tính dư nợ tín dụng (nếu có).

Đáng chú ý, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát tăng trưởng tín dụng không vượt quá hạn mức nêu trên trong suốt cả năm 2026; đồng thời, kiểm soát tốc độ tăng tín dụng trong 3 tháng đầu năm 2026 không vượt quá 25% chỉ tiêu cả năm. NHNN cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản không vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính tổ chức đó.

Với mức tăng trưởng chỉ 25% chỉ tiêu tín dụng trong mỗi quý, không ít nhà băng đã sớm cạn room của quý I, bởi hai tháng đầu năm là giai đoạn cầu vốn của khách hàng tăng vọt trong mùa Tết. Nhiều ngân hàng thậm chí không dám kích hoạt kinh doanh hay tổ chức hội thảo thúc đẩy bán hàng trong những tháng đầu năm vì sợ hết “room” quá nhanh.

Lãnh đạo một nhà băng chia sẻ, thông điệp NHNN đưa ra từ đầu năm là cần thiết để xóa bỏ những kỳ vọng quá mức về việc bơm tiền ồ ạt, vốn có thể gây áp lực lên lạm phát và tỷ giá. Tuy nhiên, cơ chế điều hành theo quý đang bộc lộ những điểm bất cập nhất định. Cụ thể, nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp không bao giờ diễn ra đều đặn 25% mỗi quý. Thêm vào đó, việc đưa các khoản vay cầm cố sổ tiết kiệm vào hạn mức tín dụng chung gây khó khăn cho ngân hàng và cả khách hàng, bởi đó là tiền gửi của chính khách hàng, nhu cầu vay là thiết yếu nhưng ngân hàng lại bị bó hẹp bởi hạn mức tăng trưởng tín dụng.

Đến thời điểm này, không chỉ các nhà băng quy mô nhỏ, mà ngay cả nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối (Big 4) cũng cạn room tín dụng. Vì vậy, các nhà băng kỳ vọng, cơ chế quản lý room tín dụng theo quý này mang tính chất trấn an thị trường trong giai đoạn cao điểm cầu vốn mùa Tết và có thể sẽ được điều chỉnh sau quý I thì các ngân hàng mới đẩy mạnh được hoạt động cho vay.

Theo Công ty Chứng khoán MB (MBS), nhóm Big 4 đã sử dụng hết hạn mức tín dụng trong quý I/2026.

Thông tin 4 ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém, gồm Vietcombank, MB, VPBank, HDBank, chuẩn bị được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đang thu hút sự quan tâm của giới đầu tư. MBS cho rằng, đây là thông tin khá tích cực và kịp thời trong bối cảnh thanh khoản của ngành ngân hàng khá căng thẳng, biểu hiện bởi sự biến động lớn của lãi suất liên ngân hàng trong khoảng thời gian gần đây. Với tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm 50%, từ mức 3% xuống 1,5% (vốn tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng) và từ mức 1% xuống 0,5% (vốn tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng) có thể cung cấp thêm khả năng cho vay khoảng 54.500 tỷ đồng. Tình hình gia tăng thực tế sẽ phụ thuộc vào hệ số CAR (an toàn vốn) và tỷ lệ LDR (cho vay trên tổng tiền gửi) của từng ngân hàng.

Cũng theo MBS, việc giảm dự trữ bắt buộc sẽ giúp các ngân hàng nâng cao nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của thị trường liên ngân hàng cũng như nhu cầu thanh toán, chi tiêu của người dân.

Room tín dụng đang trở thành “tài nguyên” cần chắt chiu

Năm 2026, mục tiêu tăng trưởng GDP được đặt ở mức tối thiểu 10%, song tăng trưởng tín dụng dự kiến chỉ khoảng 15%, thấp hơn mức tăng trưởng thực tế trong năm 2025 là 19%. PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Giảng viên cao cấp Trường đại học Kinh tế TP.HCM nhấn mạnh, tăng trưởng tín dụng không thể tiếp tục chạy theo tốc độ hay những con số bề nổi, mà phải đi vào thực chất. Trong bối cảnh dư nợ tín dụng/GDP đã ở mức cao, thanh khoản hệ thống chịu áp lực, dòng vốn cần được định hướng vào sản xuất - kinh doanh và các động lực tăng trưởng, thay vì mở rộng ồ ạt để đổi lấy tăng trưởng ngắn hạn.

Thực tế cho thấy, NHNN đang đứng trước thách thức cân bằng 3 mục tiêu: hỗ trợ tăng trưởng cao, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống. Do đó, giới phân tích cho rằng, tăng trưởng tín dụng không chỉ đơn thuần là “đẩy mạnh con số” mà cần tập trung dòng vốn vào các hoạt động sản xuất - kinh doanh thực chất.

Sau một năm tín dụng tăng nhanh, nhiều ngân hàng đang bước vào năm 2026 với thanh khoản hạn chế và dư địa giảm lãi suất bị thu hẹp, tạo thách thức với hoạt động cho vay cũng như khả năng chịu tải của hệ thống. Việc hạ mục tiêu tăng trưởng tín dụng từ 19% xuống 15%, được giới phân tích nhận định rằng, không xuất phát từ nỗi lo lạm phát, mà nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống tổ chức tín dụng. Nền kinh tế Việt Nam hiện phụ thuộc lớn vào vốn vay ngân hàng, với tỷ lệ tín dụng/GDP trên 145% - mức cao so với nhiều quốc gia, tiềm ẩn rủi ro hệ thống và đòi hỏi phải tái cân bằng với các kênh vốn khác.

Các ngân hàng đang chịu áp lực kép: Một là, room chung của ngành năm nay chỉ ở mức 15%; hai là, quy định tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản không được cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của ngân hàng. Nếu một ngân hàng tăng trưởng tín dụng tổng thể 10% thì mảng tín dụng bất động sản cũng chỉ được tăng trưởng tối đa 10%. Điều này tạo ra một điểm tắc rất lớn cho các dự án và nhu cầu mua nhà tiêu dùng. Room tín dụng giờ đây được xem như một loại “tài nguyên” khan hiếm mà ngân hàng phải chắt chiu, phân bổ cũng như cân đối kỹ lưỡng vào lĩnh vực ưu tiên, khu vực đem lại hiệu quả thực chất cho nền kinh tế, cho đời sống dân sinh, thay vì đổ vào bất động sản như trước...

TS. Lê Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế cao cấp cũng nhận định, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, tăng trưởng tín dụng quá nóng dễ dẫn tới nợ xấu, bong bóng tài sản và bất ổn tài chính. Khi vốn đổ vào quá mạnh, năng lực sản xuất có thể tăng nhanh nhưng cũng dễ gây dư thừa, kéo theo sụt giảm giá cả, doanh nghiệp thua lỗ, tồn kho lớn và nợ xấu gia tăng. Phân bổ vốn kém hiệu quả còn khiến lợi nhuận trên vốn thấp hơn chi phí tín dụng, dẫn tới mất cân đối và suy yếu hệ thống tài chính.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, Nghị quyết 01/NQ-CP năm 2026 yêu cầu phối hợp chặt chẽ, linh hoạt giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác; điều hành theo nguyên tắc thị trường, tránh lạm dụng biện pháp hành chính. Chính sách tài khóa được mở rộng có trọng tâm, còn chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt; lãi suất và tỷ giá được điều hành phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô. NHNN được yêu cầu định hướng tín dụng an toàn, hiệu quả, tập trung vào sản xuất - kinh doanh, các động lực tăng trưởng, đồng thời kiểm soát lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Theo các chuyên gia phân tích FiinGroup, để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%, Việt Nam cần kích hoạt ba nguồn vốn chiến lược, thay vì phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Thứ nhất là thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Thứ hai là vay quốc tế. Thứ ba là huy động vốn cổ phần qua thị trường chứng khoán.

Tổng giám đốc OCB, ông Phạm Hồng Hải nhận định, đối với bài toán vốn cho vay trung và dài hạn, giải pháp vẫn là phát triển thị trường vốn (trái phiếu, cổ phiếu) và các định chế tài chính có thể cung ứng vốn dài hơi hơn như bảo hiểm hay các quỹ hưu trí. Bản thân các tổ chức tín dụng cũng hiểu rõ, nếu chỉ đẩy mạnh cho vay trung dài hạn sẽ ảnh hưởng tới các chỉ số an toàn vốn vì rủi ro thanh khoản.

Vân Linh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục