Bức tranh nợ xấu và bao phủ nợ xấu của ngành ngân hàng

(ĐTCK) Báo cáo tài chính quý IV/2025 cho thấy, mặt bằng nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã dần ổn định trở lại sau giai đoạn tăng mạnh 2023 - 2024, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu được từng bước tái cân bằng. Tuy vậy, chất lượng tài sản vẫn có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm ngân hàng.
Việc củng cố bộ đệm dự phòng tiếp tục được các ngân hàng triển khai trên diện rộng

Trong bối cảnh tín dụng mở rộng mạnh mẽ, vấn đề nợ xấu trở thành yếu tố trung tâm trong đánh giá chất lượng tăng trưởng của ngành ngân hàng. Số liệu từ báo cáo tài chính quý IV/2025 của các ngân hàng niêm yết cho thấy, mặt bằng nợ xấu toàn hệ thống năm 2025 đã được kiểm soát tốt hơn so với năm 2024, khi tốc độ hình thành nợ xấu mới chậm lại rõ rệt. Diễn biến này giúp áp lực trích lập dự phòng hạ nhiệt, phản ánh việc các ngân hàng siết chặt hơn công tác quản trị rủi ro và kiểm soát chất lượng tín dụng trong bối cảnh tăng trưởng được đẩy mạnh.

Trong xu hướng chung đó, tỷ lệ nợ xấu tại nhiều ngân hàng đã ổn định hơn đáng kể so với giai đoạn 2023 - 2024, với 18/27 tổ chức ghi nhận nợ xấu được duy trì hoặc cải thiện. Áp lực nợ xấu nhìn chung không còn ở trạng thái căng thẳng như các năm trước. Song hành với quá trình mở rộng tín dụng, việc củng cố bộ đệm dự phòng tiếp tục được triển khai trên diện rộng, với mức bổ sung vừa phải nhằm đưa tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiệm cận trở lại mức trung bình lịch sử. Những chuyển động này tạo ra bộ đệm an toàn để hệ thống hướng tới mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15% trong năm 2026.

Ông Lê Hoài Ân, CFA

Nợ xấu toàn ngành dần ổn định

Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 19% trong năm 2025, vượt xa mục tiêu 16%, phản ánh đà mở rộng tín dụng mạnh mẽ. Đi cùng với đó, yêu cầu kiểm soát chất lượng tài sản ngày càng trở nên then chốt. Theo số liệu cuối quý IV/2025, tổng nợ xấu toàn ngành là 262.491 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cuối năm 2024 - thấp hơn đáng kể so với mức tăng bình quân 5 năm, phản ánh nỗ lực kìm hãm đà gia tăng nợ xấu kể từ sau năm 2021.

Riêng trong quý IV, quy mô nợ xấu giảm 4,2% so với quý III, trong khi tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống hạ xuống 1,85% - mức thấp nhất trong 12 quý gần nhất, cho thấy hiệu quả kiểm soát rủi ro tín dụng trong bối cảnh tín dụng tăng tốc.

Mặt khác, mặt bằng dự phòng của hệ thống có sự điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn. Tại cuối quý IV/2025, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) toàn ngành là 83,34%, giảm nhẹ so với mức 89,85% cuối năm 2024. Tổng số dư dự phòng đạt khoảng 218.750 tỷ đồng, tăng 5,83% so với cùng kỳ, cho thấy dự phòng tiếp tục được bổ sung, dù với nhịp độ chậm hơn.

Cấu trúc dự phòng ghi nhận sự dịch chuyển đáng chú ý khi dự phòng chung tăng mạnh 19,3% so với cuối năm 2024, trong khi dự phòng cụ thể giảm khoảng 4,1%. Xét về quy mô tuyệt đối, tổng dự phòng tăng thêm khoảng 12.000 tỷ đồng so với đầu năm 2025, trong đó dự phòng chung tăng 16.800 tỷ đồng, còn dự phòng cụ thể giảm 4.800 tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy, trong quý IV/2025, chi phí trích lập dự phòng có xu hướng hoàn nhập khi nhiều khoản vay cải thiện tình hình tài chính và các ngân hàng chủ động xử lý để đưa một số khoản nợ xấu ra theo dõi ngoại bảng.

Xét theo từng nhóm ngân hàng, bức tranh nợ xấu trong năm 2025 có xu hướng cải thiện. Nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì nợ xấu ở mức thấp, với tỷ lệ nợ xấu đạt 1,1% tại cuối năm 2025, giảm so với mức 1,23% cuối năm 2024 và 1,14% của năm 2023. Trong bối cảnh chất lượng tín dụng được kiểm soát tốt, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của nhóm đạt 142,38%.

Dù thấp hơn đáng kể so với mức 164,5% của năm 2024 và 188,46% của năm 2023, nhưng xét theo diễn biến trong năm, bộ đệm dự phòng của nhóm quốc doanh đang có xu hướng được củng cố trở lại, tăng so với mức chỉ khoảng 132% tại quý I. Diễn biến này cho thấy, tiến trình xử lý nợ xấu của các ngân hàng quốc doanh đã được đẩy nhanh trong năm qua.

Đối với nhóm ngân hàng bán buôn, tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh về mức 1,79%, từ 1,97% cuối năm 2024, chủ yếu nhờ tốc độ hình thành nợ xấu mới chậm lại rõ rệt so với giai đoạn 2022 - 2024. Song song với đó, bộ đệm dự phòng của nhóm cũng được cải thiện đáng kể khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng từ 74,25% lên 77,8% tại cuối năm 2025.

Sự cải thiện này đến từ việc các ngân hàng bán buôn đẩy mạnh trích lập trong năm, giúp số dư dự phòng tăng hơn 18% so với cùng kỳ. Nhóm ngân hàng quy mô nhỏ khác cũng ghi nhận tín hiệu tích cực khi tỷ lệ nợ xấu giảm từ 2,41% xuống còn 2,1% vào cuối năm 2025, đồng thời tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng khoảng 8% so với cùng kỳ, đạt xấp xỉ 60%.

Trái ngược với xu hướng chung, nhóm ngân hàng bán lẻ là nhóm duy nhất ghi nhận nợ xấu tăng trở lại trong năm 2025. Tỷ lệ nợ xấu của nhóm tăng từ 2,76% lên 3,18%, quay trở lại vùng cao nhất trong ba năm gần đây. Quy mô nợ xấu tăng mạnh 42% so với cuối năm 2024, trong đó cả nợ nhóm 3 và nợ nhóm 5 đều tăng trên 30%.

Tỷ lệ bao phủ nợ xấu của nhóm giảm từ 61,84% xuống còn 57,31%, trở thành nhóm có mức bao phủ thấp nhất toàn hệ thống. Trong bối cảnh đó, áp lực chi phí dự phòng nhiều khả năng sẽ còn kéo dài trong các quý tới nếu xu hướng nợ xấu chưa sớm đảo chiều.

Phân hóa giữa các ngân hàng

Trong năm 2025, khoảng hai phần ba số ngân hàng ghi nhận cải thiện cả tỷ lệ nợ xấu và mức bao phủ nợ xấu, phản ánh xu hướng tích cực trong quản trị chất lượng tài sản của toàn ngành. Tuy nhiên, số còn lại vẫn cho thấy những điểm nghẽn nhất định, cho thấy quá trình ổn định chất lượng tín dụng chưa diễn ra đồng đều giữa các ngân hàng.

Ở nhóm quốc doanh, BID chịu áp lực nợ xấu tương đối lớn trong giai đoạn đầu năm 2025 khi tỷ lệ nợ xấu tiệm cận 2%. Tuy nhiên, đến quý IV, tỷ lệ này giảm mạnh xuống 1,47%, trở lại mức tương đương năm 2024 nhờ đẩy mạnh xử lý các khoản vay doanh nghiệp lớn tồn đọng. Đặc biệt, nợ nhóm 5 giảm 0,23% và nợ nhóm 4 giảm 0,13% trong quý cuối năm, thể hiện hiệu quả xuất toán nợ xấu và thu hồi tài sản bảo đảm.

Quy mô nợ xấu thu hẹp khiến tỷ lệ bao phủ giảm về khoảng 100% từ mức 131% cuối năm 2024, cho thấy BID đã tăng tốc xử lý nợ trong giai đoạn cuối năm 2025. Ngược lại, VCB và CTG duy trì chất lượng danh mục cho vay ổn định, với tỷ lệ nợ xấu giảm so với 1 năm trước, lần lượt đạt 0,58% và 1,1%.

Riêng trong quý IV/2025, quy mô nợ xấu giảm 4,2% so với quý III, trong khi tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống hạ xuống 1,85% - mức thấp nhất trong 12 quý gần nhất.

VCB nổi bật khi giảm mạnh 0,45% chỉ trong quý IV/2025 nhờ danh mục tập trung vào khách hàng doanh nghiệp lớn có tài sản bảo đảm tốt, nợ xấu giảm đồng đều ở cả ba nhóm. CTG tăng nhẹ 0,01% trong quý cuối năm 2025 chủ yếu do nợ nhóm 5 tăng 0,4% từ việc phân loại nợ thận trọng hơn, nhưng nhìn chung vẫn ổn định nhờ giảm mạnh nợ nhóm 3 và nhóm 4.

Cả hai ngân hàng tiếp tục dẫn đầu hệ thống về bao phủ nợ xấu, với LLR lần lượt khoảng 260% và 160%.

Ở nhóm ngân hàng bán lẻ, diễn biến tăng nợ xấu mang tính cục bộ hơn là lan rộng toàn nhóm. Phần lớn các ngân hàng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu giảm, ngoại trừ STB - trường hợp tiếp tục chịu áp lực trong quá trình xử lý nợ kéo dài từ năm 2023.

Tại cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu của STB tăng lên 6,41%, cao hơn đáng kể so với mức 2,4% cùng kỳ, với quý IV là điểm rơi chính khi Ngân hàng rà soát và phân loại lại danh mục, dẫn đến nợ nhóm 5 tăng 2,87% và nợ nhóm 3 tăng 0,72%. Đây là bước đi chiến lược nhằm làm sạch bảng cân đối kế toán sau giai đoạn tái cơ cấu và VAMC, dù phải đánh đổi bằng chi phí dự phòng tăng vọt 29% trong quý IV, khiến tỷ lệ bao phủ giảm từ 68,43% cuối năm 2024 xuống còn xấp xỉ 50%. Đáng chú ý, nợ nhóm 5 chiếm gần 75% tổng nợ xấu.

Ngược lại, VIB và VPB ghi nhận tỷ lệ nợ xấu giảm về mức thấp nhất kể từ năm 2023, lần lượt còn 2,97% và 3,33%, nhờ chủ động tái cơ cấu danh mục cho vay, giảm tỷ trọng cho vay bán lẻ khoảng 7 - 10% so với 1 năm trước và xử lý hiệu quả nợ nhóm 4 - 5 trong quý IV/2025.

Trong khi đó, ACB và TPB duy trì vị thế là các ngân hàng có chất lượng tài sản tốt nhất trong khối bán lẻ, với tỷ lệ nợ xấu lần lượt ở mức 0,97% và 1,29%.

ACB đặc biệt nổi bật khi giảm mạnh nợ nhóm 5 (0,77%) nhờ xử lý các khoản nợ tồn đọng, đồng thời chủ động tăng trích lập dự phòng gấp đôi năm 2024 để nâng tỷ lệ bao phủ lên 114%, thể hiện ưu tiên củng cố bộ đệm an toàn dài hạn thay vì tối ưu hóa lợi nhuận ngắn hạn.

TPB cũng cải thiện đồng đều ở cả ba nhóm nợ nhờ số hóa quy trình thẩm định và danh mục có tài sản bảo đảm tốt, với tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 90%.

Nhóm ngân hàng tập trung cho vay doanh nghiệp ghi nhận diễn biến đan xen, với khoảng một nửa số ngân hàng cải thiện chất lượng nợ trong khi nửa còn lại suy giảm. Trong bức tranh đó, TCB, MBB và LPB là những điểm sáng của nhóm với tỷ lệ nợ xấu dưới 2%.

Đáng chú ý, TCB ghi nhận NPL chỉ ở mức 1,07%, trong khi MBB giảm mạnh xuống 1,29% nhờ tái cơ cấu hiệu quả nợ nhóm 4 mà không làm gia tăng nợ nhóm 5.

Ở chiều ngược lại, HDB đối mặt với áp lực chất lượng tài sản gia tăng kể từ đầu năm 2025. Tổng dư nợ xấu tăng hơn 50% so với cuối năm 2024, trong khi tăng trưởng tín dụng cả năm đạt 23,5%. Việc nợ xấu gia tăng nhanh hơn đáng kể so với quy mô dư nợ khiến tỷ lệ nợ xấu của HDB tăng mạnh lên 2,44%.

Dù quý IV đã cải thiện phần nào nhờ giảm nợ nhóm 3 - 4, nợ nhóm 5 của HDB vẫn tăng 0,36%. Ngân hàng tăng mạnh trích lập dự phòng 18,77% trong quý IV để củng cố bộ đệm an toàn. Khả năng hấp thụ rủi ro cũng suy giảm trong các quý gần đây, với tỷ lệ bao phủ nợ xấu tại cuối năm 2025 giảm xuống còn 54,8%, so với mức 68,7% cuối năm 2024.

Đối với nhóm ngân hàng còn lại, diễn biến nợ xấu trong quý IV/2025 mang sắc thái tích cực hơn khi 8/11 ngân hàng ghi nhận cải thiện so với cùng kỳ. NVB là trường hợp nổi bật khi tỷ lệ nợ xấu từ mức rất cao 19,54% cuối năm 2024 đã giảm mạnh xuống 8,63%, tương ứng quy mô nợ xấu thu hẹp gần 40%.

Ở chiều tích cực, ABB, BAB, VAB và KLB tiếp tục duy trì lợi thế về chất lượng tài sản với tỷ lệ nợ xấu dưới 2%, trong đó ABB ghi nhận mức 0,88% so với 3,7% của năm liền trước.

Ngược lại, EIB, VBB và SGB có tỷ lệ nợ xấu quanh ngưỡng 3%, tăng thêm khoảng 0,2 - 0,3% so với năm 2024. Riêng EIB tăng lên 2,86%, với nợ nhóm 5 chiếm tỷ trọng lớn (gần 3.480 tỷ đồng), buộc Ngân hàng phải tăng mạnh trích lập dự phòng 23,27% trong quý IV để xử lý dứt điểm các khoản nợ tồn đọng từ nhiều năm trước. Điều này phản ánh chiến lược làm sạch bảng cân đối trong giai đoạn chuyển giao lãnh đạo và tái cơ cấu mạnh mẽ, dù chất lượng tín dụng chưa được cải thiện rõ rệt.

Diễn biến nợ xấu năm 2025 cho thấy bức tranh phân hóa rõ rệt giữa các nhóm ngân hàng. Một số ngân hàng chủ động tái cơ cấu và tăng trích lập dự phòng, qua đó giúp chất lượng tài sản được củng cố vững chắc. Tuy nhiên, vẫn còn không ít trường hợp đối mặt với áp lực nợ xấu gia tăng, đòi hỏi các chiến lược xử lý linh hoạt để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Lê Hoài Ân, CFA

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục