Xác định và xử lý những điểm nghẽn của thị trường tài chính

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Theo ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), điểm nghẽn của thị trường tài chính Việt Nam hiện nay không chỉ nằm ở quy mô, mà còn ở mức độ liên kết giữa các cấu phần - từ nhà đầu tư, tổ chức trung gian tài chính đến các thị trường giao dịch.
Ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)

Cấu trúc cơ bản của thị trường tài chính

Chia sẻ tại hội thảo “Huy động hiệu quả nguồn vốn, phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số” tổ chức ngày 12/3, ông Hùng cho biết, về tổng thể, thị trường tài chính được cấu thành từ ba nhóm thành phần chính: nguồn cung vốn, nhu cầu sử dụng vốn và các thể chế trung gian kết nối cung - cầu.

Nguồn cung vốn chủ yếu đến từ khu vực hộ gia đình và doanh nghiệp - những chủ thể có nguồn tiền nhàn rỗi cần tìm kiếm cơ hội đầu tư. Trong khi đó, nhu cầu vốn đến từ các hoạt động sử dụng cuối cùng của nền kinh tế như tiêu dùng, đầu tư sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như chi tiêu của Chính phủ.

Kết nối hai phía cung - cầu là hệ thống các tổ chức trung gian tài chính và các thị trường giao dịch. Trong đó, nhóm trung gian bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp bảo hiểm.

Song song với đó là các thị trường tài chính, gồm hai cấu phần chính. Thứ nhất là thị trường tiền tệ, nơi giao dịch các công cụ ngắn hạn phục vụ nhu cầu thanh khoản của hệ thống tài chính. Thứ hai là thị trường vốn, bao gồm thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu - kênh huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp và Chính phủ.

Ngoài ra, hệ sinh thái tài chính còn bao gồm các dịch vụ hỗ trợ như bảo hiểm, thanh toán, lưu ký, xếp hạng tín nhiệm và các dịch vụ trung gian khác.

"Khi các cấu phần này vận hành đồng bộ và liên thông, thị trường tài chính có thể thực hiện tốt vai trò huy động và phân bổ nguồn lực cho nền kinh tế”, ông Hùng nói.

Cơ chế vận hành: cân đối lợi suất - rủi ro

Theo ông Hùng, thị trường tài chính vận hành dựa trên hai nguyên lý cốt lõi.

Thứ nhất là cân đối giữa lợi suất và rủi ro. Các tài sản có rủi ro cao thường đi kèm với lợi suất kỳ vọng cao hơn, trong khi các tài sản an toàn hơn thường mang lại lợi suất thấp hơn. Khi cơ chế này hoạt động hiệu quả, dòng vốn sẽ được phân bổ đến những khu vực có hiệu quả cao nhất.

Thứ hai là khả năng quản trị và giảm rủi ro thông qua các công cụ thị trường. Thị trường tài chính cần cung cấp nhiều sản phẩm và cơ chế giúp nhà đầu tư và doanh nghiệp kiểm soát rủi ro, qua đó tối ưu chi phí vốn.

Trong cơ chế này, thông tin đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Chẳng hạn, đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, cần có hệ thống xếp hạng tín nhiệm để đánh giá rủi ro tín dụng của tổ chức phát hành. Đối với tín dụng cá nhân, cơ sở dữ liệu tín dụng giúp các tổ chức cho vay xác định mức độ rủi ro và định giá lãi suất phù hợp.

“Thông tin minh bạch giúp thị trường định giá đúng rủi ro, qua đó thiết lập mức lợi suất hợp lý và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn. Khi các công cụ quản trị rủi ro và hệ thống thông tin được phát triển đầy đủ, chi phí tài chính của nền kinh tế cũng có thể được tối ưu hóa”, ông Hùng nhấn mạnh.

Những khoảng trống liên kết trong hệ sinh thái tài chính

Từ thực tiễn của Việt Nam, ông Hùng cho rằng, một số mối liên kết quan trọng trong hệ sinh thái tài chính vẫn chưa được khai thác hiệu quả, đặc biệt trên thị trường trái phiếu.

Trước hết, liên kết giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp của trái phiếu doanh nghiệp còn hạn chế. Quy mô thị trường trái phiếu của Việt Nam so với GDP vẫn thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực, trong khi mức độ giao dịch thứ cấp còn khiêm tốn. Thanh khoản thấp khiến nhà đầu tư phải đối mặt với rủi ro thanh khoản cao hơn, từ đó hạn chế sức hấp dẫn của thị trường.

Thứ hai, cơ sở nhà đầu tư của thị trường trái phiếu Chính phủ còn tập trung. Hiện phần lớn trái phiếu được nắm giữ bởi các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp bảo hiểm. Trong khi đó, tại nhiều quốc gia trong khu vực, cơ cấu nhà đầu tư đa dạng hơn với sự tham gia của quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, nhà đầu tư nước ngoài và nhiều nhóm nhà đầu tư tổ chức khác.

Thứ ba, mối liên kết giữa thị trường trái phiếu và hệ thống ngân hàng chưa phát huy đầy đủ. Hệ thống tài chính Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, trong khi nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu có kỳ hạn ngắn và trung hạn. Ngược lại, nhu cầu vốn của doanh nghiệp - đặc biệt là các dự án hạ tầng - thường kéo dài 15 - 20 năm.

“Ở nhiều quốc gia, ngân hàng thường tài trợ cho dự án trong giai đoạn xây dựng - khi rủi ro cao. Sau khi dự án hoàn thành và bắt đầu tạo ra dòng tiền ổn định, doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu dài hạn để tái cấp vốn, qua đó trả lại khoản vay ngân hàng. Cơ chế này giúp giải phóng nguồn vốn của ngân hàng để tài trợ cho các dự án mới”, ông Hùng cho biết.

Thứ tư, liên kết giữa thị trường trái phiếu với các trung gian tài chính và nhà đầu tư cuối cùng còn yếu. Một phần lớn trái phiếu doanh nghiệp vẫn được phát hành và lưu thông trong khu vực trung gian tài chính, thay vì phân bổ rộng rãi tới các nhà đầu tư dài hạn trên thị trường.

Tăng cường liên thông để mở rộng nguồn lực

Từ những phân tích trên, ông Hùng cho rằng phát triển thị trường tài chính cần đặt trọng tâm vào tăng cường tính liên thông giữa các cấu phần của hệ thống.

Đối với khu vực công, cần tiếp tục cải cách thị trường trái phiếu Chính phủ theo hướng mở rộng cơ sở nhà đầu tư, đồng thời nâng cao hiệu quả lựa chọn và triển khai các dự án đầu tư công. Việc thúc đẩy các mô hình hợp tác công - tư (PPP) cũng giúp huy động thêm nguồn lực từ khu vực tư nhân cho các dự án hạ tầng.

Đối với khu vực tư nhân, cần phát triển đồng bộ các cấu phần của thị trường vốn, bao gồm cả thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu. Cùng với đó là nâng cao tính minh bạch thông tin, phát triển hệ thống xếp hạng tín nhiệm và mở rộng hệ sinh thái dịch vụ tài chính.

Theo ông Hùng, khi các cấu phần của hệ thống tài chính được kết nối hiệu quả, dòng vốn sẽ được phân bổ linh hoạt hơn giữa các khu vực của nền kinh tế. Điều này không chỉ giúp giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, mà còn tạo điều kiện huy động các nguồn lực dài hạn phục vụ tăng trưởng bền vững.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục