Khai thông kênh dẫn vốn trung và dài hạn mới

0:00 / 0:00
0:00
Để tăng trưởng 2 con số, nền kinh tế cần một lượng vốn trung và dài hạn khổng lồ. Theo ông Phạm Xuân Hòe, Phó chủ tịch Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, kênh dẫn vốn này nếu tiếp tục phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng, sẽ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. “Cần phải có kênh dẫn vốn trung và dài hạn mới”, ông Hòe phát biểu.
Ông Phạm Xuân Hòe, Phó chủ tịch Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam. Ông Phạm Xuân Hòe, Phó chủ tịch Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam.

Vì sao ông cho rằng nền kinh tế tiếp tục phụ thuộc quá lớn vào hệ thống ngân hàng sẽ tiềm ẩn rủi ro với mục tiêu tăng trưởng 2 con số?

Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam khoảng 145-147% và nếu tiếp tục mở rộng theo quán tính như hiện nay, thì dư nợ tín dụng sẽ tiến đến mức 180-185% GDP - có thể nói là cao nhất trong các nền kinh tế đang phát triển. Hệ thống ngân hàng đang cung cấp khoảng 60-65% tổng vốn cho nền kinh tế, nếu tiếp tục gia tăng, thì dẫn tới mất cân đối nghiêm trọng giữa vốn ngân hàng và các nguồn vốn khác, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Chúng ta từng trải qua giai đoạn 2008-2011 tăng trưởng tín dụng nóng, hậu quả là nợ xấu bùng phát. Năm 2013, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) để xử lý nợ xấu bằng biện pháp kỹ thuật. Đến năm 2017, Quốc hội ban hành Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Với sự quyết liệt của Chính phủ, NHNN, tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng đã giảm xuống, nhưng với mức dư nợ khoảng 18 triệu tỷ đồng hiện nay, tỷ lệ nợ xấu 3%, thì tổng số nợ xấu đã trên 500.000 tỷ đồng. Khi quy mô dư nợ tín dụng ngày càng tăng để đáp ứng vốn cho nền kinh tế, nếu giữ được tỷ lệ nợ xấu như hiện nay, thì quy mô nợ xấu cũng tăng lên. Đây là rủi ro rất lớn không chỉ với hệ thống ngân hàng, mà cho cả nền kinh tế.

Câu chuyện lệch pha giữa huy động vốn ngắn hạn nhiều, trong khi cho vay trung và dài hạn cao của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã hình thành từ rất lâu, nhưng vẫn là bài toán nan giải. Lãi suất huy động vốn ngắn hạn biến động theo thị trường, khi lãi suất huy động tăng, buộc phải tăng lãi suất cho vay trung, dài hạn khiến hiệu quả, lợi nhuận của các dự án đầu tư giảm, lợi nhuận của nhà băng cũng bị giảm, tác động ngay tới hiệu quả của nền kinh tế.

Tóm lại, nếu tiếp tục thúc tăng trưởng kinh tế dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, thì chu kỳ kinh tế sẽ ngắn lại, lạm phát dễ bùng lên và chính sách tiền tệ bị sử dụng hết dư địa. Tăng trưởng GDP 2 con số không thể xây trên nền móng rủi ro hệ thống như vậy.

Ông là một trong các chuyên gia kinh tế thường lên tiếng cảnh báo về việc dòng vốn tín dụng chảy vào những lĩnh vực đầy rủi ro?

Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất, kinh doanh khá thấp, phải có lợi nhuận trên 10% mỗi năm mới có tiền lãi trả ngân hàng. Trong khi đó, lợi nhuận từ đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro rất cao, nhất là bất động sản và chứng khoán.

Bản chất của dòng tiền là đổ vào lĩnh vực có lợi nhuận cao hơn, vì thế vốn ngân hàng sẽ chảy vào bất động sản, chứng khoán. Khi 2 thị trường này biến động, sẽ tác động ngay tới hệ thống ngân hàng, cả nền kinh tế và người dân cần vốn sản xuất, kinh doanh. Đây là rủi ro rất lớn.

Bất động sản đang chiếm hơn 4 triệu tỷ đồng dư nợ, năm 2025 tăng trên 26% so với năm 2024. Chứng khoán dù tỷ trọng nhỏ, nhưng năm 2025 tăng trưởng trên 50%. Điều này phản ánh quy luật thị trường: vốn đi theo lợi nhuận. Nhưng nếu vốn đổ quá mạnh vào tài sản, thay vì sản xuất, sẽ đối mặt với hai vấn đề: bong bóng tài sản và hiệu quả sử dụng vốn thấp (ICOR cao).

Dòng vốn tập trung vào những lĩnh vực nhạy cảm, lợi nhuận cao nhưng rủi ro quá lớn, một khi thị trường có biến động, nợ xấu gia NHNN buộc phải siết room tín dụng như đã từng thực hiện vào năm 2011, khiến hàng chục ngàn doanh nghiệp phải đóng cửa, phá sản; lạm phát gia tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, thu nhập thực tế của người dân giảm. Hậu quả để lại vô cùng lớn.

Muốn tăng trưởng 2 con số, nền kinh tế cần nguồn vốn vô cùng lớn, song hạn chế tín dụng ngân hàng, thì lấy vốn ở đâu, thưa ông?

Bên cạnh vốn đầu tư công từ khu vực nhà nước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn huy động trên thị trường chứng khoán, vốn từ trái phiếu doanh nghiệp, còn có nguồn vốn rất lớn nữa là từ các tổ chức tài chính cho vay không nhận tiền gửi.

Các tổ chức tài chính cho vay không nhận tiền gửi gồm công ty tài chính tổng hợp, công ty tài chính tiêu dùng, công ty bao thanh toán và đặc biệt là công ty cho thuê tài chính. Các định chế này cho vay trực tiếp, nên khách hàng vay không mất chi phí trung gian như ngân hàng. Họ cũng không huy động tiền gửi dân cư, nên rủi ro nếu có xảy ra không tạo ra rủi ro hệ thống như ngân hàng.

Hiện Việt Nam có 49 ngân hàng thương mại, nhưng chỉ khoảng 10 công ty cho thuê tài chính, tổng dư nợ khoảng 48.000 tỷ đồng, quá nhỏ so với nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế.

Cho thuê tài chính có ưu điểm là gắn với tài sản thực, vì công ty cho doanh nghiệp thuê máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, nên doanh nghiệp hầu như không cần tài sản thế chấp, thủ tục cho thuê đơn giản. Mặc dù lãi suất có thể cao hơn đôi chút so với vay ngân hàng, nhưng doanh nghiệp dễ tiếp cận vốn và đặc biệt không tạo ra bong bóng vì máy móc, dây chuyền, thiết bị, công nghệ cho thuê thật, doanh nghiệp sản xuất thật, nên tăng trưởng tín dụng của ngành cho thuê tài chính với nền kinh tế là “tăng trưởng thật”.

Ông có thể phân tích rõ hơn vai trò của công ty cho thuê tài chính với thúc đẩy tăng trưởng 2 con số?

Muốn tăng trưởng 2 con số, phải tăng năng suất lao động. Muốn tăng năng suất, phải đổi mới công nghệ. Nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa rất khó vay ngân hàng vì thiếu tài sản bảo đảm. Cho thuê tài chính giải quyết đúng điểm nghẽn đó. Doanh nghiệp không cần thế chấp tài sản mà sử dụng chính máy móc, thiết bị thuê làm tài sản bảo đảm. Chi phí có thể cao hơn vay ngân hàng, nhưng đổi lại, họ có cơ hội tiếp cận công nghệ, thiết bị cần thiết ngay để đưa vào sản xuất.

Hoạt động cho thuê tài sản không chỉ đem lại lợi ích với doanh nghiệp đi thuê, công ty cho thuê, mà cho cả doanh nghiệp sản xuất. Ví dụ, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất container, nếu họ có công ty cho thuê tài chính, thì công ty này làm trung gian để cho các doanh nghiệp vận tải, logistics thuê container. Như vậy, doanh nghiệp vận tải, logistics không cần phải vay vốn ngân hàng để mua container, mà khi cần thì thuê, thủ tục rất nhanh chóng, thuận lợi, doanh nghiệp được hưởng lợi, còn Hòa Phát cũng tiêu thụ được sản phẩm.

Ở Việt Nam hiện có hàng chục ngàn doanh nghiệp cả trong và ngoài nước tham gia sản xuất máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất, phương tiện vận tải... Khi mở rộng cửa cho lĩnh vực cho thuê tài chính, thì các sản phẩm công nghiệp này đến được với thị trường, cả nền kinh tế được hưởng lợi. Đây là nguồn vốn trung, dài hạn vô cùng lớn được bơm trực tiếp vào nền kinh tế, không thông qua ngân hàng thương mại, mà qua công ty cho thuê tài chính.

Kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả như vậy, nhưng theo ông, vì sao Việt Nam vẫn chưa phát triển mạnh hoạt động cho thuê tài chính?

Trước năm 2024, hành lang pháp lý cho hoạt động cho thuê tài chính chưa đầy đủ, nên việc thành lập, hoạt động gặp nhiều khó khăn. Hy vọng, hoạt động cho thuê tài chính, cung cấp vốn tín dụng trung và dài hạn cho nền kinh tế thông qua cho thuê máy móc, dây chuyền, trang thiết bị, phương tiện vận tải... sẽ phát triển, vì hoạt động này đã được Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định rất cụ thể.

Để hoạt động cho thuê tài chính phát triển, NHNN dự kiến sửa đổi, bổ sung Thông tư 26/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động cho thuê tài chính của công ty tài chính tổng hợp, công ty cho thuê tài chính vào tháng 6/2026. Sau khi đánh giá hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính, tôi tin rằng, NHNN sẽ mở rộng phạm vi hoạt động, đối tượng áp dụng và giảm thiểu thủ tục hành chính, những quy định không cần thiết trong việc thành lập công ty cho thuê tài chính.

Về dài hạn, để phát triển kênh dẫn vốn này, cần ban hành một luật riêng về thành lập, hoạt động của các tổ chức tài chính cho vay không nhận tiền gửi tách bạch với Luật Các tổ chức tín dụng.

Tôi cho rằng, khi có hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẽ, thông thoáng, Việt Nam sớm có một kênh dẫn vốn trung, dài hạn song song với ngân hàng, giảm áp lực lên chính sách tiền tệ, góp phần đáng kể thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số.

Mạnh Bôn
Baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục