Tỷ giá chịu áp lực, lãi suất huy động tiếp tục tăng

(ĐTCK) Báo cáo thị trường tiền tệ, một nghiên cứu của MBS mới công bố cho thấy áp lực tỷ giá gia tăng rõ rệt trong bối cảnh USD mạnh lên do căng thẳng địa chính trị, trong khi mặt bằng lãi suất trong nước cũng bước vào chu kỳ tăng trở lại khi thanh khoản hệ thống chịu sức ép và nhu cầu vốn gia tăng.

USD mạnh lên nhanh, tỷ giá đối mặt áp lực kép

Theo Báo cáo, đồng USD ghi nhận tháng tăng mạnh nhất trong 8 tháng trở lại đây. Từ mức 97,6 điểm vào cuối tháng 2, chỉ số DXY đã bật tăng 3% trong tháng, lên mức 100,51 điểm vào cuối tháng 3, tương ứng tăng 2,3% so với đầu năm. Đây cũng là mức tăng theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 7/2025.

Đà phục hồi mạnh của USD diễn ra trong bối cảnh xung đột kéo dài tại Trung Đông làm gia tăng nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng. Ngay từ đầu tháng 3, giá dầu thế giới đã bật tăng nhanh, có thời điểm chạm xấp xỉ 120 USD/thùng - mức cao nhất trong 4 năm. Việc giá dầu, vốn được định giá bằng USD, tăng mạnh trở thành động lực chính thúc đẩy chỉ số DXY.

Cùng với đó, giá dầu leo thang làm dấy lên lo ngại về lạm phát, khiến thị trường điều chỉnh kỳ vọng về lộ trình lãi suất của Fed. Theo công cụ FedWatch của CME, kỳ vọng về việc Fed cắt giảm lãi suất trong năm nay gần như đã bị xóa bỏ, trong khi lần giảm lãi suất tiếp theo được dự báo lùi tới tháng 10/2027. Trước đó, ngày 18/3, Fed đã quyết định giữ nguyên phạm vi lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% trong bối cảnh áp lực lạm phát dai dẳng và căng thẳng địa chính trị leo thang.

Trong nước, Nghiên cứu của MBS cho biết, dưới tác động của USD mạnh lên, tỷ giá tiếp tục tăng nhanh trong tháng 3. Cụ thể, tỷ giá liên ngân hàng đến cuối tháng tăng 1,1% so với tháng trước, lên 26.345 VND/USD (tăng 0,3% so với đầu năm). Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ 0,2% lên 25.102 VND/USD (giảm 0,1% so với đầu năm), trong khi tỷ giá tự do tăng mạnh 5,1%, lên mức 28.055 VND/USD - thiết lập đỉnh lịch sử mới (tăng 4,2% so với đầu năm).

Áp lực tỷ giá còn đến từ yếu tố cán cân thương mại. Theo số liệu Cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 3, cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt khoảng 0,53 tỷ USD, nâng mức nhập siêu lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/3 lên 3,51 tỷ USD.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã tái kích hoạt kênh bán ngoại tệ kỳ hạn trong tháng 3, thông qua các hợp đồng 180 ngày (có hủy ngang) cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm, với giá bán 26.850 VND/USD. Động thái này được đánh giá là linh hoạt, vừa góp phần ổn định tâm lý thị trường, vừa bảo toàn dự trữ ngoại hối trong trường hợp áp lực tỷ giá giảm và các giao dịch bị hủy.

Trước đó, trong năm 2025, cơ quan điều hành đã thực hiện tổng cộng 3 đợt bán USD kỳ hạn vào tháng 8 và tháng 10 nhằm giảm áp lực tỷ giá.

Dự báo trong thời gian tới, áp lực lên tỷ giá vẫn hiện hữu. Giá dầu tăng mạnh do xung đột Trung Đông nhiều khả năng tiếp tục hỗ trợ đà tăng của USD, trong khi kỳ vọng Fed trì hoãn giảm lãi suất, thậm chí có thể tăng lãi suất nếu lạm phát chưa hạ nhiệt, cũng là yếu tố củng cố sức mạnh của đồng bạc xanh.

Bên cạnh đó, thặng dư thương mại có xu hướng thu hẹp khi nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu để phục vụ sản xuất. Dù xuất khẩu được kỳ vọng cải thiện từ cuối quý II, mức cải thiện cán cân thương mại trong ngắn hạn được đánh giá là khá khiêm tốn. Đáng chú ý, chi phí vận chuyển gia tăng cùng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD mạnh lên có thể làm gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.

"Tỷ giá USD/VND được dự báo dao động trong khoảng 26.350 - 26.700 trong quý II/2026, tương ứng mức tăng khoảng 0,3% - 1,6% so với đầu năm", Báo cáo nhận định.

Áp lực thanh khoản trở lại, lãi suất tăng tốc

Cùng với diễn biến tỷ giá, Báo cáo cho biết, thị trường tiền tệ trong nước ghi nhận sự đảo chiều rõ nét về thanh khoản và lãi suất trong tháng 3.

Sau Tết Nguyên đán, Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh hoạt động hút ròng khi áp lực thanh khoản hạ nhiệt do các yếu tố mùa vụ qua đi. Trong tháng 3, cơ quan điều hành bơm gần 491,3 nghìn tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO) với kỳ hạn 7 - 56 ngày, lãi suất 4,5%, trong khi lượng đáo hạn lên tới hơn 605,8 nghìn tỷ đồng. Như vậy, hệ thống ghi nhận mức hút ròng gần 114,6 nghìn tỷ đồng - lớn nhất kể từ tháng 10/2024.

Báo cáo chia sẻ: "Diễn biến này kéo lượng OMO lưu hành xuống còn hơn 290 nghìn tỷ đồng, giảm 41% so với mức đỉnh đầu tháng 2, đồng thời khiến mặt bằng lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh".

Nghiên cứu chia sẻ cụ thể, lãi suất qua đêm giảm từ 10,5% đầu tháng xuống 3,7% vào ngày 16/3, trước khi bật tăng trở lại lên 9,3% vào ngày 30/3, tăng 4,7 điểm phần trăm so với cuối tháng 2. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng 1,7 điểm phần trăm lên 8,9%, trong khi các kỳ hạn từ 1 tháng đến 6 tháng tăng nhẹ hơn, khoảng 0,2 - 0,3 điểm phần trăm, dao động trong khoảng 7,6% - 7,9%.

Trên thị trường 1, lãi suất huy động tiếp tục xu hướng tăng và lan tỏa rộng trong tháng 3. Trong số 16 ngân hàng được theo dõi, phần lớn đã điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi, chủ yếu ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, với mức tăng từ 0,1% - 1,4%.

“Đáng chú ý, xu hướng tăng lãi suất không chỉ diễn ra ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ mà đã lan sang cả các ngân hàng thương mại lớn, bao gồm nhóm “Big4”. Không chỉ dừng ở biểu lãi suất niêm yết, khảo sát thực tế cho thấy mặt bằng lãi suất tại nhiều ngân hàng cao hơn đáng kể so với mức công bố, thậm chí xuất hiện mức lên tới 9%/năm cho các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên”, MBS cho biết.

Diễn biến này phản ánh áp lực huy động vốn đang gia tăng rõ rệt, đặc biệt vào thời điểm cuối quý khi các tổ chức tín dụng đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 23/3, dư nợ tín dụng toàn hệ thống ước tăng khoảng 2,02% so với cuối năm 2025.

Dữ liệu khảo sát cho thấy, đến cuối tháng 3, lãi suất kỳ hạn dưới 12 tháng cao nhất đạt 8,7%/năm. Ở kỳ hạn 12 tháng, Vikki Bank là ngân hàng có mức lãi suất cao nhất, lên tới 8,8%/năm. Trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng Tier 1 đạt 7,95%, trong khi nhóm Tier 2 ở mức 8,19%, qua đó kéo mặt bằng lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng của hệ thống lên khoảng 8,07%.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục