Từ cuộc cách mạng đổi mới đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

0:00 / 0:00
0:00
Qua 40 năm Đổi mới, sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH được định hình sáng rõ, được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn.
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, khi ý Đảng hòa quyện với lòng dân, khi tinh thần “thần tốc, táo bạo” được phát huy, đất nước luôn làm nên kỳ tích Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, khi ý Đảng hòa quyện với lòng dân, khi tinh thần “thần tốc, táo bạo” được phát huy, đất nước luôn làm nên kỳ tích

Thế và lực của đất nước

Sau 40 năm Đổi mới, thế và lực của đất nước đã có sự phát triển vượt bậc: từ chỗ nghèo nàn lạc hậu đến một đất nước có nền kinh tế được đánh giá là điểm sáng của thế giới; chính trị - xã hội ổn định, môi trường đầu tư hấp dẫn, là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2021).

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Những thành tựu vĩ đại đạt được sau 40 năm Đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo... hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực, có trách nhiệm trong nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia - dân tộc được bảo đảm... Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; hoàn thành về đích sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ...”.

Ba trụ cột cốt lõi của CNXH Việt Nam là kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN, phát triển ngày càng vững chắc, trở thành trụ đỡ vững vàng cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới phồn vinh, hạnh phúc. Ba trụ cột này có mối quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau.

Nền tảng của ba trụ cột là Nhân dân, “dân là gốc”, “dân là chủ”, “dân là trung tâm”, dân vừa là mục tiêu vừa là động lực, nguồn lực cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là cơ sở, nền tảng của Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN; Nhà nước pháp quyền XHCN và nền dân chủ XHCN thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển mạnh mẽ.

Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của Nhân dân. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ngày càng được hiện thực hóa.

Sức mạnh tổng hợp quốc gia được củng cố

Những thành tựu vĩ đại đạt được sau 40 năm Đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng giúp Việt Nam tích lũy thế và lực cho sự phát triển bứt phá trong giai đoạn tiếp theo... hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực, có trách nhiệm trong nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng.

- Tổng Bí thư Tô Lâm

Sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng được củng cố và tăng cường: độc lập dân tộc luôn gắn liền với CNXH. Trong tiến trình hội nhập quốc tế qua 40 năm Đổi mới, Việt Nam giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng XHCN; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm vai trò quản lý hiệu quả của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân; đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ XHCN được bảo vệ vững chắc. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, an toàn thông tin được tăng cường, môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước được giữ vững.

Tiềm lực quốc phòng, an ninh được đầu tư, củng cố, tăng cường; xử lý linh hoạt, chủ động, hiệu quả các tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền. Sức mạnh chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội, sức mạnh quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường... Sức mạnh tổng hợp cho phát triển đất nước được nâng lên, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào thành công của quá trình xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tiềm lực trên tất cả các lĩnh vực của đất nước không ngừng nâng cao và có sự phát triển vượt bậc. Sau 40 năm Đổi mới, kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển mạnh mẽ, trình độ nền kinh tế được nâng lên, quy mô nền kinh tế năm 2025 ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới; GDP bình quân đầu người ước 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, vào nhóm thu nhập trung bình cao, vượt mục tiêu đề ra, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới 4%, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm.

Năng suất lao động liên tục tăng. Tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo. Mức đóng góp của Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng kinh tế ngày một lớn hơn, giai đoạn 2011 - 2025 là 34,75%. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là điểm sáng, đạt 38,42 tỷ USD, thuộc nhóm 15 nước đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao rõ rệt. Theo Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46, tăng 37 bậc so với năm 2020 (xếp thứ 83).

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế… có bước phát triển vượt bậc. Hệ giá trị quốc gia, giá trị văn hóa, giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam từng bước được định hình, khẳng định. Tỷ lệ người biết chữ đạt gần 99%; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 20 lần so với trước; phổ cập giáo dục trung học cơ sở hoàn thành từ năm 2014. Chất lượng nguồn nhân lực liên tục được nâng cao, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ năm 2025 đạt khoảng 29-30%.

Tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước được nâng lên. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được hình thành và phát triển, năm 2025 xếp thứ 55/119 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 1 bậc so với năm 2024; Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 44/139 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Định hướng XHCN trong các chính sách xã hội được nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn; gắn kết kinh tế với xã hội, chính sách kinh tế với chính sách xã hội; an sinh xã hội, phúc lợi xã hội đạt kết quả tích cực; chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách người có công, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài... được thực hiện đồng bộ, đạt kết quả tích cực.

Sức khỏe của nhân dân được quan tâm chăm sóc; việc khám, chữa bệnh tiếp cận được nhiều kỹ thuật tiên tiến. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,15% năm 2025. Quản lý tài nguyên, đất đai được tăng cường, kiểm soát ô nhiễm môi trường được quan tâm, chú trọng huy động các nguồn lực ứng phó với biến đổi khí hậu. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 61/167 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Chính sách an sinh xã hội, phúc lợi, dân tộc, tôn giáo, chăm sóc người có công, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện đồng bộ, đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu ngày càng được chú trọng.

Vươn mình trong hội nhập quốc tế

Qua 40 năm Đổi mới, quan hệ đối ngoại được mở rộng, hội nhập quốc tế ngày càng hiệu quả. Việt Nam đã và đang thể hiện rõ, tốt vai trò là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế... vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng cao. Từ một nước... bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã trở thành nước hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực, có trách nhiệm trong nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm.

“Từ một đất nước chưa có tên trên bản đồ thế giới, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế… Lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân là mục tiêu phấn đấu, Việt Nam được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một câu chuyện thành công, một điểm sáng về xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân”, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định trong bài viết “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, yêu cầu cấp bách của giai đoạn cách mạng mới” trên Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 16/9/2024.

Trong bài viết “Vươn mình trong hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 3/4/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm cũng khẳng định: “Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam... là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ chính trị, quốc phòng, an ninh phát triển sâu rộng, thực chất”.

Việt Nam chủ động và tích cực hội nhập quốc tế một cách toàn diện, từ vị thế hội nhập của một quốc gia đi sau sang trạng thái một quốc gia vươn lên, tiên phong vào những lĩnh vực mới.

Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20)...

Việt Nam có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả châu lục; tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, nhất là 17 FTA thế hệ mới, đã gắn kết Việt Nam với hơn 60 nền kinh tế chủ chốt, tham gia sâu hơn vào các mạng sản xuất, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu, đưa Việt Nam vào nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới và nhóm 15 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài, nhóm 10 quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất thế giới.

Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức nhân dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 tổ chức nhân dân và đối tác nước ngoài. Đối ngoại quốc phòng, an ninh và đối ngoại chuyên ngành ngày càng mở rộng, đóng góp quan trọng vào kết quả đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân.

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã và đang đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, phát huy vai trò tích cực tại nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương quan trọng như ASEAN, Liên hợp quốc, tiểu vùng Mekong, APEC, AIPA, IPU, UNESCO, các Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP), Diễn đàn cấp cao Vành đai và con đường…

Việt Nam được bạn bè quốc tế tín nhiệm đề cử gánh vác nhiều trọng trách quốc tế quan trọng trong các cơ chế, diễn đàn đa phương, nhất là trong ASEAN và Liên hợp quốc như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ (nhiệm kỳ 2008-2009, nhiệm kỳ 2020-2021), Phó chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc 2023-2025, Ủy ban liên chính phủ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO, Ủy ban Luật pháp quốc tế nhiệm kỳ 2023-2027…

Về tham gia các lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đến giữa năm 2025, Việt Nam đã cử hơn 1.000 lượt sĩ quan quân đội, công an triển khai theo hình thức cá nhân và đơn vị đi làm nhiệm vụ tại châu Phi và Trụ sở Liên hợp quốc ở New York; cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn quốc tế tại Thổ Nhĩ Kỳ, Myanmar.

Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Công cuộc Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là lựa chọn mang tính lịch sử, là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại mang tầm vóc và ý nghĩa to lớn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, quy luật, xu thế phát triển chung của thời đại.

Đất nước tiếp tục phát triển nhanh và bền vững; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, HNQT là trọng yếu, thường xuyên.

Sau 40 năm Đổi mới mở ra cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế mới, tầm nhìn mới cho đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Những thành quả vĩ đại sau 40 năm Đổi mới đã tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược, vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ, xây dựng một đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập Nước… Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là trí tuệ nhân tạo và công nghệ số đem đến cơ hội mà những quốc gia đang phát triển, chậm phát triển có thể nắm bắt để đi trước đón đầu, phát triển vượt bậc”.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, khi ý Đảng hòa quyện với lòng dân, khi tinh thần “thần tốc, táo bạo” được phát huy, đất nước luôn làm nên kỳ tích: từ chiến thắng hai đế quốc hùng mạnh, đến thành công trong công cuộc đổi mới dù từng bị bao vây, cấm vận.

Hiện nay, khát vọng xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng các cường quốc năm châu đang hội tụ đầy đủ thời cơ và điều kiện. Đây chính là thời điểm bản lề, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ bước vào một kỷ nguyên vươn mình mới của dân tộc, tiếp nối kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới.

PGS-TS. Vũ Văn Phúc
Nguyên Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản/baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục