TP.HCM tiên phong thử nghiệm thể chế chính sách kinh tế đột phá

TP.HCM không chỉ là đầu tàu kinh tế, mà còn là “phòng thử nghiệm thể chế” - nơi những sáng kiến, chính sách đột phá được hiện thực hóa thành công và nhân rộng ra cả nước. TS. Vũ Thành Tự Anh, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright trao đổi về vai trò này của Thành phố trong việc hiện thực hóa các chính sách thí điểm mới.
TS. Vũ Thành Tự Anh, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright

Nhìn lại quá trình thử nghiệm các chính sách trong hơn nửa thế kỷ qua, những chính sách thí điểm nào của TP.HCM được xem là thành công và tạo dấu ấn rõ ràng nhất, thưa ông?

Suốt nửa thế kỷ, TP.HCM đã chủ động kiến tạo, trở thành nơi thử nghiệm nhiều mô hình, thể chế và chính sách mới của cả nước. Điển hình nhất là Khu chế xuất Tân Thuận (khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam năm 1991). Mô hình này tạo được môi trường thể chế riêng biệt, với hạ tầng hiện đại, thuế suất ưu đãi và thủ tục nhanh gọn, nhờ đó thu hút được những dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) quý giá đầu tiên sau đổi mới.

TP.HCM cũng tiên phong phát hành trái phiếu đô thị năm 2003 để huy động vốn cho hạ tầng. Trong 4 năm, Thành phố huy động được 8.000 tỷ đồng để mở rộng và nâng cấp các trục giao thông, bệnh viện và trường học, sau đó Hà Nội và Đà Nẵng tiếp bước.

TP.HCM còn có các sáng kiến khác như thí điểm cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh và thành lập ngân hàng cổ phần đầu tiên (Ngân hàng Công thương Sài Gòn), tạo tiền đề cho hệ thống ngân hàng cổ phần hiện nay; lập Quỹ Đầu tư phát triển đô thị (HIFU) năm 1996 (đến năm 2010 chuyển thành Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước TP.HCM - HFIC), đóng vai trò như “cánh tay nối dài của ngân sách” chuyên huy động vốn xã hội hóa để đầu tư cho hạ tầng, giáo dục, y tế.

Những mô hình trên đều xuất phát từ thực tiễn cấp bách của một đô thị lớn, được Trung ương cho phép thí điểm và sau đó trở thành thể chế và chính sách chung. Qua đó, TP.HCM khẳng định vai trò “phòng thử nghiệm thể chế”, nơi khởi nguồn đổi mới và nhiều chính sách kinh tế quan trọng của cả nước.

Khu chế xuất Tân Thuận được TP.HCM xây dựng trên nền tảng Luật Đầu tư nước ngoài 1987 và các chính sách ưu đãi đầu tiên của Việt Nam

Từ Khu chế xuất Tân Thuận đến Khu công nghệ cao TP.HCM, theo ông, “chìa khóa” thành công của Thành phố nằm nhiều hơn ở thiết kế chính sách, hay năng lực tổ chức thực thi?

Thành công của Khu chế xuất Tân Thuận, Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, hay các đổi mới thể chế, chính sách khác cho thấy, thiết kế thể chế chỉ là điều kiện cần. Mô hình Tân Thuận được xây dựng trên nền tảng Luật Đầu tư nước ngoài 1987 và các chính sách ưu đãi đầu tiên của Việt Nam, nhưng điểm then chốt là năng lực tổ chức thực thi của Thành phố với cơ chế một cửa, thủ tục thực hiện nhanh.

Khu công nghệ cao TP.HCM cũng vậy. Chính sách miễn giảm thuế và hạ tầng đồng bộ đã giúp thu hút Intel, Samsung, song kết nối doanh nghiệp với đại học và trung tâm R&D, tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mới là yếu tố quyết định.

Tôi mượn hình ảnh đường băng sân bay để nói về “đường băng thể chế”, muốn “cất cánh” thành công đòi hỏi một sự đồng bộ: một “đường băng phẳng” - khung pháp lý rõ ràng, ổn định; một “máy bay tốt” - doanh nghiệp đủ năng lực công nghệ; “phi công dày dạn kinh nghiệm” - lãnh đạo có tầm nhìn và trách nhiệm và “điều khiển không lưu” hiệu quả - điều phối liên ngành, liên cấp, liên vùng.

Như vậy, kết quả cải cách hay tăng trưởng kinh tế không đến từ ý chí, mà từ năng lực điều phối liên ngành thực sự hiệu quả. Thiết kế chính sách chỉ tạo “đường băng”, năng lực tổ chức thực thi và sự phối hợp giữa các cơ quan mới đảm bảo máy bay cất cánh thành công.

Theo đánh giá của ông, TP.HCM có đang phụ thuộc quá nhiều vào cơ chế đặc thù hay không, và nếu có, đâu là rủi ro lớn nhất về dài hạn?

Tôi cho rằng, Nghị quyết 98/2023/QH15 (điều chỉnh bởi Nghị quyết 260/2025/QH15) đã trao cho TP.HCM quyền thực hiện thí điểm nhiều cơ chế vượt trội về đầu tư, tài chính và quản lý đô thị. Ở giai đoạn đầu, “cơ chế đặc thù” là cần thiết để tháo gỡ rào cản, nhờ đó Thành phố đã thí điểm đầu tư các dự án BOT mở rộng Quốc lộ 1, Quốc lộ 13, Quốc lộ 22 và trục Bắc - Nam, với tổng vốn hơn 57.000 tỷ đồng, quy hoạch 500 km đường sắt đô thị gắn với phát triển đô thị (TOD). Tuy nhiên, nếu phụ thuộc quá lâu vào cơ chế đặc thù, sẽ dẫn tới hai rủi ro chính.

Thứ nhất, cơ chế đặc thù có thể tạo cảm giác xin - cho kéo dài, khiến TP.HCM bị coi là trường hợp ngoại lệ, không thúc đẩy cải cách tổng thể của toàn hệ thống. Thực tế là, Thành phố đang vận hành trong khung khổ thể chế chung dành cho các tỉnh, dẫn tới sự “không tương thích” giữa quy mô, vai trò và công cụ quản trị, khiến nhiều quyết định phải qua nhiều tầng nấc phê duyệt. Nếu cứ cơi nới bằng cơ chế đặc thù, Thành phố sẽ liên tục vướng vào vòng lặp “đề xuất - xin phép”, không hiệu quả và mất cơ hội.

Thứ hai, cơ chế đặc thù nếu áp dụng tùy tiện, có thể tạo ra bất bình đẳng giữa các địa phương và làm méo mó thị trường, đặc biệt trong phân bổ ngân sách và ưu đãi thuế. Vì vậy, rủi ro lớn nhất là “đặc thù” trở thành “đặc quyền”, dẫn đến lệch lạc trong phân bổ nguồn lực và làm suy giảm tính minh bạch của môi trường thể chế và đầu tư chung.

Với Nghị quyết 98/2023/QH15 (được điều chỉnh bởi Nghị quyết 260/2025/QH15), TP.HCM cần làm gì để cơ chế thí điểm thực sự tạo đột phá, thay vì thí điểm kéo dài mà hiệu quả chưa tương xứng?

Để Nghị quyết 98/2023/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15 thực sự tạo chuyển biến chứ không kéo dài thử nghiệm, tôi cho rằng, TP.HCM cần tập trung vào 3 nhóm việc.

Một là, chủ động chuyển đổi cơ cấu dựa trên 3 trụ cột: thể chế dung hợp (Nhà nước - thị trường - xã hội), kinh tế thị trường hiện đại và Nhà nước kiến tạo. Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào năng suất và năng suất cao đòi hỏi đầu tư vào công nghệ, giáo dục, hạ tầng và năng lực quản trị. Vì vậy, điều then chốt là phải chuyển các nghị quyết trên giấy thành các khoản đầu tư vào các tài sản tạo ra năng suất trên thực tế.

Hai là, nâng cao “năng lực động” của chính quyền đô thị, tức là khả năng học hỏi, thích ứng và phối hợp. Điều này bao gồm phân quyền thực chất, rút ngắn quy trình phê duyệt và cá thể hóa trách nhiệm.

Ba là, chuẩn hóa trách nhiệm giải trình và minh bạch. Một hệ thống pháp luật rõ ràng, ổn định và được thực thi hiệu quả sẽ tạo môi trường kinh doanh có thể dự đoán, giảm rủi ro, nhờ đó thúc đẩy đầu tư. Thí điểm thành công đòi hỏi minh bạch về quy trình, cơ chế đánh giá dựa trên kết quả và sẵn sàng điều chỉnh khi có sai sót. TP.HCM nên xem Nghị quyết 260/2025/QH15 như “sandbox” thể chế, một khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát, với mục tiêu cuối cùng là chuẩn hóa thành quy định chung.

Từ góc nhìn của ông, TP.HCM cần làm gì để chuyển lợi thế chính sách đặc thù thành lợi thế cạnh tranh bền vững trong thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao?

Lợi thế chính sách chỉ là một điều kiện cần. Để biến lợi thế này thành lợi thế cạnh tranh bền vững, tôi cho rằng, TP.HCM cần tập trung vào 4 yếu tố.

Trước hết là củng cố cấu trúc hạ tầng và môi trường sống. Hiện nay, nhà đầu tư quan tâm tới hạ tầng giao thông, số hóa dịch vụ công, hệ thống y tế - giáo dục... Nghị quyết 98/2023/QH15 và Nghị quyết 260/2025/QH15 cho phép TP.HCM thí điểm thu hút đầu tư các lĩnh vực này. Nếu thực thi tốt, Thành phố sẽ thu hút dòng vốn đầu tư và công nghệ cao.

Yếu tố tiếp theo là phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Kinh nghiệm từ Khu công nghệ cao TP.HCM cho thấy, chỉ ưu đãi thuế là chưa đủ, Thành phố cần đầu tư vào R&D, hỗ trợ start-up, liên kết đại học - doanh nghiệp và phát triển “thành phố tri thức” nhằm thu hút nhân tài.

Một yếu tố then chốt khác là tính minh bạch và dự đoán được của chính sách. Một môi trường pháp lý rõ ràng giúp giảm rủi ro và chi phí tuân thủ. Điều này đòi hỏi TP.HCM phải công khai tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư, đấu thầu minh bạch và chuẩn hóa quy trình bồi thường, giải phóng mặt bằng.

Cuối cùng là xây dựng thương hiệu đô thị toàn cầu. Hiện nay, ngoài chính sách, nhà đầu tư chất lượng cao lựa chọn những đô thị có thương hiệu về sáng tạo, bền vững và chất lượng sống. TP.HCM cần chú trọng quy hoạch đô thị xanh, quản lý rủi ro môi trường và thúc đẩy văn hóa sáng tạo.

Khi những lợi thế trên tích tụ, TP.HCM sẽ không cần “xé rào” để cạnh tranh, lợi thế thể chế sẽ biến thành lợi thế cạnh tranh tự nhiên. Khi đó, TP.HCM sẽ trở thành trung tâm hạt nhân dẫn dắt, không chỉ của Đông Nam bộ, mà cho cho cả nước, nhằm thu hút dòng vốn và công nghệ chất lượng cao, góp phần đưa Việt Nam tới mục tiêu nước thu nhập cao.

Những thí điểm thành công của TP.HCM cho thấy, khi địa phương được trao quyền và chủ động tìm giải pháp, kết quả thường lan tỏa thành chính sách quốc gia. Tuy nhiên, cơ chế đặc thù chỉ là bước chuyển tạm thời, mục tiêu cuối cùng phải là một khung pháp lý ổn định, minh bạch và dung hợp, để Thành phố tự tin cạnh tranh và dẫn dắt tăng trưởng bền vững.

Lê Quân
baodautu.vn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục