Khi thời gian cũng là một phần của bài toán vốn
Với SME, bài toán tín dụng không chỉ nằm ở lãi suất hay hạn mức vay. Thời điểm giải ngân, kỳ hạn khoản vay, thủ tục, tài sản bảo đảm và khả năng chứng minh dòng tiền đều có thể quyết định doanh nghiệp có tận dụng được một cơ hội kinh doanh hay không.
Phát biểu tại Tại Hội nghị “Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” do Ngân hàng Nhà nước tổ chức ngày 18/9, bà Nguyễn Thị Lan Hương, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ Nông nghiệp Công nghệ cao Doanh nhân trẻ Việt Nam cho biết, qua 27 phiên đối thoại với doanh nghiệp từ đầu năm, tín dụng thường xuyên nằm trong nhóm vấn đề được quan tâm đầu tiên. Doanh nghiệp không chỉ quan tâm có vay được hay không, mà còn chú ý đến tổng chi phí khoản vay, tài sản bảo đảm, thời hạn vay, thủ tục và thời gian giải ngân.
“Với doanh nghiệp, thời gian cũng là chi phí”, bà Hương nói, đồng thời cho rằng chậm vốn có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, đặc biệt với những ngành có chu kỳ sản xuất, thu mua theo mùa vụ.
| |
Bà Nguyễn Thị Lan Hương, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, Chủ tịch Câu lạc bộ Nông nghiệp Công nghệ cao Doanh nhân trẻ Việt Nam chia sẻ tại Hội nghị |
Vì vậy, một khoản vay phù hợp không đơn thuần là khoản vay có lãi suất thấp, mà còn phải đến đúng lúc, có kỳ hạn phù hợp với chu kỳ kinh doanh và phương thức trả nợ tương thích với khả năng tạo tiền của doanh nghiệp.
Trong khi đó, ông Đỗ Văn Vẻ, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên cho biết, khoảng cách giữa nhu cầu vốn và khả năng tiếp cận vốn còn đến từ những hạn chế bên trong doanh nghiệp như quản trị, minh bạch tài chính, hồ sơ, khả năng chứng minh dòng tiền, uy tín tín dụng và chất lượng phương án kinh doanh.
Theo ông Vẻ, để tiếp cận vốn thuận lợi hơn, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính, quản lý tốt dòng tiền, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh có tính khả thi.
Từ góc độ chính sách, bà Nguyễn Thị Bích Thủy, Phó trưởng phòng Phòng Hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) cho biết, Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng tiếp cận cả phía cung và cầu vốn.
Một nội dung được đặt ra là khuyến khích các tổ chức cung ứng vốn phát triển phương thức cấp vốn phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp, dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất kinh doanh, phương án trả nợ, doanh thu, dữ liệu, dòng tiền và các thông tin hợp pháp khác, thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm.
Cùng với đó là định hướng đa dạng hóa phương thức tài trợ như bao thanh toán, cho thuê tài chính, tài trợ chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và các biện pháp bảo đảm bằng động sản, tài sản hình thành trong tương lai, quyền sở hữu trí tuệ, khoản phải thu hoặc dòng tiền.
Điều này không có nghĩa loại bỏ tài sản bảo đảm khỏi hoạt động tín dụng. Vấn đề là tài sản không nên trở thành nguồn thông tin duy nhất để nhận diện năng lực trả nợ của doanh nghiệp.
| |
Bà Nguyễn Thị Bích Thủy, Phó Trưởng phòng, Phòng Hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh, Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể, Bộ Tài chính, |
Từ bộ hồ sơ vay đến “bức tranh” doanh nghiệp
Một thay đổi được đề cập tại hội nghị là việc số hóa và chuẩn hóa thông tin có thể giúp các bên có cái nhìn đầy đủ hơn về doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Thanh Nghị, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm Thiên Minh (Thien Minh Rating - TMR), đề xuất xây dựng hồ sơ doanh nghiệp số hóa tập trung, đi kèm đánh giá tín nhiệm độc lập.
Theo ông Nghị, việc số hóa có thể tự động hóa quá trình truy xuất dữ liệu, giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian chuẩn bị hồ sơ và cung cấp thông tin có cấu trúc hơn khi làm việc với các tổ chức tín dụng.
TMR cũng đã xây dựng công cụ phân tích, đánh giá tự động sử dụng khoa học dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, kết hợp với kinh nghiệm phân tích tài chính, kiểm toán của đội ngũ chuyên môn. Các công cụ này có thể hỗ trợ rà soát ban đầu, nâng độ tin cậy của thông tin trong hồ sơ và phục vụ hoạt động xếp hạng tín nhiệm dựa trên dữ liệu.
Theo cách tiếp cận này, doanh nghiệp không chỉ “đưa hồ sơ” đến ngân hàng khi có nhu cầu vay, mà có thể hình thành một hệ thống thông tin được cập nhật và chuẩn hóa, giúp các bên hiểu rõ hơn về năng lực vận hành, tình hình tài chính và khả năng trả nợ.
Thực tế, dự thảo chính sách của Bộ Tài chính cũng đặt vấn đề xây dựng cơ sở dữ liệu doanh nghiệp, phát triển các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, chấm điểm tín dụng; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch, chất lượng kế toán, tài chính, mở rộng thị trường và tham gia chuỗi giá trị.
Hệ thống dữ liệu được định hướng kết nối các nguồn như đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, tín dụng và đầu tư để phục vụ cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức xếp hạng tín nhiệm và các tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên, dữ liệu chỉ có giá trị khi doanh nghiệp tạo ra được một “dòng dữ liệu” đáng tin cậy từ hoạt động thực tế. Đây cũng là lý do Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam đề xuất thí điểm hồ sơ tín dụng chuẩn cho SME. Theo bà Lan Hương, doanh nghiệp cần chuẩn hóa công tác kế toán, minh bạch dòng tiền, nâng cao năng lực quản trị và chất lượng phương án kinh doanh.
Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam sẵn sàng phối hợp với Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng để thí điểm một bộ hồ sơ, giúp doanh nghiệp biết rõ cần chuẩn bị những gì, đồng thời giảm thời gian xử lý cho cả hai phía.
Một hướng khác được doanh nghiệp đề cập là tín dụng gắn với hoạt động kinh doanh thực tế. Với doanh nghiệp có dữ liệu tin cậy, tham gia chuỗi liên kết và có đầu ra ổn định, có thể nghiên cứu các hình thức tài trợ dựa trên dòng tiền, hóa đơn, đơn hàng và khoản phải thu.
Cách tiếp cận này đặc biệt có ý nghĩa với những doanh nghiệp không có nhiều tài sản truyền thống nhưng có hoạt động kinh doanh thực và khả năng tạo doanh thu.
Cùng với dữ liệu và phương thức cấp vốn, vai trò của các quỹ bảo lãnh tín dụng cũng được đặt lại theo hướng thực chất hơn.
Đại diện cộng đồng doanh nghiệp đề nghị cơ chế bảo lãnh cần trở thành công cụ chia sẻ rủi ro giữa doanh nghiệp, quỹ bảo lãnh và ngân hàng, thay vì tạo thêm một tầng thủ tục.
Theo đó, tiêu chí, tỷ lệ bảo lãnh, trách nhiệm của các bên và thời hạn xử lý cần được công khai, qua đó giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quá trình tiếp cận vốn.
Kết luận hội nghị, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn nhận định, với khách hàng SME, các tổ chức tín dụng cần nghiên cứu phương thức đánh giá dựa nhiều hơn vào phương án sản xuất, kinh doanh, dòng tiền, lịch sử tín dụng, năng lực quản trị và dữ liệu doanh nghiệp, phù hợp với khả năng kiểm soát rủi ro của từng tổ chức tín dụng và quy định pháp luật.
NHNN cũng sẽ nghiên cứu xây dựng đề án thí điểm phân tích dữ liệu dòng tiền phục vụ hoạt động thông tin tín dụng, đánh giá khả năng kết nối và khai thác các nguồn dữ liệu hợp pháp để đề xuất khuôn khổ pháp lý phù hợp.
Điểm đáng chú ý là thay đổi cách tiếp cận không đồng nghĩa với nới lỏng chuẩn tín dụng. Thống đốc Phạm Đức Ấn yêu cầu các ngân hàng tiếp tục công khai lãi suất, điều kiện tín dụng, giảm chi phí, số hóa quy trình và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng không hạ chuẩn tín dụng.
Như vậy, để cánh cửa tín dụng rộng hơn, không chỉ ngân hàng cần thay đổi cách thẩm định mà doanh nghiệp cũng phải thay đổi cách chứng minh năng lực của mình.
Từ một bộ hồ sơ được chuẩn bị khi phát sinh nhu cầu vay, doanh nghiệp cần hướng tới hệ thống dữ liệu phản ánh liên tục năng lực vận hành, doanh thu, dòng tiền, nghĩa vụ tài chính và triển vọng kinh doanh.
Khi ngân hàng có thêm dữ liệu để đánh giá, doanh nghiệp có thêm công cụ chứng minh năng lực, còn các cơ chế bảo lãnh và tổ chức trung gian góp phần chia sẻ rủi ro, chuẩn hóa thông tin, bài toán tiếp cận vốn sẽ dần được nhìn rộng hơn câu chuyện tài sản thế chấp.
Khi đó, câu hỏi không chỉ là doanh nghiệp có tài sản gì để bảo đảm khoản vay, mà còn là hoạt động kinh doanh đang tạo ra dòng tiền như thế nào và năng lực trả nợ được chứng minh ra sao.