Khơi thông tín dụng cho SME từ đánh giá dòng tiền

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) vẫn gặp nhiều rào cản khi tiếp cận tín dụng do thiếu tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng đang chuyển dần sang mô hình cho vay dựa trên dòng tiền, năng lực quản trị và mức độ minh bạch tài chính của doanh nghiệp.
Việc thận trọng hơn trong cấp vốn của các ngân hàng là cần thiết trong bối cảnh rủi ro kinh tế gia tăng. Việc thận trọng hơn trong cấp vốn của các ngân hàng là cần thiết trong bối cảnh rủi ro kinh tế gia tăng.

Rào cản tiếp cận vốn tín dụng

Ông Hoàng Quang Phòng, Phó chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, Báo cáo kinh tế tư nhân năm 2025 (PCI 2025) cho thấy nhiều điểm nghẽn đáng lo ngại của khu vực doanh nghiệp, trong đó nổi bật là khó khăn trong tiếp cận tín dụng và sự phụ thuộc quá lớn vào vốn vay ngân hàng.

Trong khi sức tải của hệ thống ngân hàng có giới hạn, điều kiện cấp tín dụng ngày càng chặt chẽ hơn, thì các kênh dẫn vốn thay thế như trái phiếu doanh nghiệp hay thị trường chứng khoán vẫn chưa đủ chiều sâu để trở thành bệ đỡ hiệu quả cho khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Những nguồn vốn mới như tài chính xanh, quỹ đầu tư tư nhân hay nguồn vốn khí hậu quốc tế cũng còn khá xa vời với phần lớn doanh nghiệp do yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn quản trị cao.

Khảo sát của World Bank Enterprise Surveys cho thấy, có tới 21,2% doanh nghiệp Việt Nam coi tiếp cận tài chính là trở ngại lớn nhất trong hoạt động kinh doanh, cao hơn đáng kể so với Malaysia hay Thái Lan. Đặc biệt, yêu cầu tài sản thế chấp tiếp tục là “nút thắt” lớn nhất trong hệ thống tín dụng.

Theo PCI 2025, khoảng 93,5% khoản vay tại Việt Nam yêu cầu tài sản bảo đảm, cao vượt trội so với Malaysia hay Thái Lan. Có tới 75,5% doanh nghiệp cho biết không thể vay vốn nếu thiếu tài sản thế chấp, trong khi hơn một nửa đánh giá việc tiếp cận tín dụng không có tài sản bảo đảm là “rất khó khăn”.

Thực tế này phản ánh mô hình tín dụng ngân hàng tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo, thay vì đánh giá dòng tiền, mô hình kinh doanh hay tiềm năng phát triển của doanh nghiệp. Điều này đặc biệt bất lợi với SME, startup hay doanh nghiệp đổi mới sáng tạo - nhóm thường không sở hữu nhiều tài sản hữu hình dù có tiềm năng tăng trưởng tốt.

Không chỉ khó về tài sản bảo đảm, doanh nghiệp còn đối mặt với áp lực lãi suất, điều kiện vay vốn và thủ tục hành chính. Theo khảo sát, hơn 56% doanh nghiệp cho rằng điều kiện tiếp cận vốn của khu vực tư nhân khó khăn hơn doanh nghiệp nhà nước; gần một nửa phản ánh tổ chức tín dụng áp đặt các điều kiện bất lợi hoặc thủ tục vay vốn còn phiền hà.

Theo GS. TS. Hoàng Văn Cường, Phó chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, SME hiện chiếm khoảng 95% tổng số doanh nghiệp, tạo việc làm cho hơn 80% lao động và đóng góp gần 50% GDP. Tuy nhiên, khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực này chỉ trong khoảng 30 - 40%.

Một trong những nguyên nhân cốt lõi là cách tiếp cận tín dụng vẫn mang nặng tính truyền thống. Ngân hàng thường dựa vào tài sản bảo đảm, báo cáo tài chính chuẩn hóa và dữ liệu lịch sử để đánh giá hồ sơ vay vốn, trong khi SME lại vận hành theo mô hình linh hoạt, quy mô nhỏ và dòng tiền quay vòng nhanh nhưng thiếu tài sản thế chấp cũng như hệ thống quản trị bài bản.

Theo ông Tô Hoài Nam, Phó chủ tịch Thường trực kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, SME không hẳn không có tài sản, nhưng nhiều loại tài sản như máy móc, hàng hóa, đơn hàng hay dòng tiền chưa được nhìn nhận đầy đủ theo chuẩn tín dụng hiện nay.

Bên cạnh đó, dù doanh nghiệp đã nhận thức rõ hơn về yêu cầu minh bạch tài chính và chuyển đổi số, song việc đầu tư hệ thống kế toán, công nghệ và nhân sự quản trị vẫn là gánh nặng lớn đối với doanh nghiệp nhỏ.

Ngân hàng chuyển sang đánh giá dòng tiền

Ở góc độ ngân hàng, các tổ chức tín dụng cho rằng việc thận trọng hơn trong cấp vốn là cần thiết trong bối cảnh rủi ro kinh tế gia tăng và chất lượng tài sản cần được kiểm soát chặt hơn.

Ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Ngân hàng doanh nghiệp HDBank cho biết, khoảng cách giữa hồ sơ trên giấy tờ và năng lực tài chính thực tế của doanh nghiệp hiện là vấn đề lớn khiến ngân hàng phải thận trọng hơn khi phê duyệt tín dụng.

Không phải cứ có tài sản bảo đảm là ngân hàng sẽ cho vay. Ðiều cốt lõi vẫn nằm ở sức khỏe tài chính, dòng tiền và khả năng vận hành của doanh nghiệp.

Theo ông Phương, báo cáo tài chính có kiểm toán mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để tạo niềm tin với ngân hàng. Điều quan trọng hơn là tính trung thực của số liệu, cấu trúc tài chính và khả năng quản trị dòng tiền của doanh nghiệp.

Ông cũng cho rằng, nhiều doanh nghiệp hiện có tỷ lệ đòn bẩy quá cao, thậm chí kỳ vọng ngân hàng tài trợ tới 70 - 75% nhu cầu vốn, trong khi các mô hình quản trị rủi ro quốc tế thường chỉ chấp nhận mức khoảng 50%.

Trong bối cảnh đó, xu hướng cấp tín dụng của các ngân hàng đang dần thay đổi. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản thế chấp, nhiều tổ chức tín dụng bắt đầu chuyển sang đánh giá toàn diện hơn về dòng tiền, mô hình kinh doanh và năng lực vận hành của doanh nghiệp.

Theo ông Trần Hoài Phương, một ngân hàng hiện đại không thể chỉ nhìn vào tài sản đảm bảo, bởi việc xử lý tài sản để thu hồi nợ khi xảy ra rủi ro thực tế không hề đơn giản. Giá trị tài sản bảo đảm cũng có thể sụt giảm mạnh nếu thị trường biến động.

Tuy nhiên, để giảm phụ thuộc vào tài sản thế chấp, doanh nghiệp buộc phải xây dựng cấu trúc tài chính minh bạch hơn, quản trị dòng tiền bài bản hơn và sử dụng vốn đúng mục đích.

Ông Phương cũng cảnh báo tình trạng doanh nghiệp sử dụng vốn ngắn hạn cho đầu tư dài hạn vẫn khá phổ biến. Việc vay vốn lưu động để đầu tư máy móc hoặc tài sản cố định có thể gây mất cân đối tài chính nghiêm trọng và làm gia tăng rủi ro thanh khoản.

Xu hướng cho vay dựa trên dòng tiền cũng đang được nhiều ngân hàng thúc đẩy mạnh hơn. Ông Hoàng Trung Hiếu, Giám đốc Trung tâm Chiến lược kinh doanh và phát triển sản phẩm khối SME của VPBank cho biết, Ngân hàng đang từng bước chuyển từ mô hình cấp tín dụng chủ yếu dựa trên tài sản đảm bảo sang đánh giá phương án kinh doanh, dòng tiền và năng lực vận hành của doanh nghiệp.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, ông Vương Văn Quý, Phó trưởng Ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, ngân hàng này cũng đang đẩy mạnh mô hình quản lý tín dụng theo dòng tiền và phương án sản xuất - kinh doanh, thay vì chỉ phụ thuộc vào tài sản thế chấp.

Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Phi Lân, Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê và Ổn định tiền tệ - tài chính, Ngân hàng Nhà nước cho rằng, việc khơi thông dòng vốn cần được thực hiện hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính.

Theo đó, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực quản trị tài chính, minh bạch thông tin, sử dụng vốn đúng mục đích và đa dạng hóa nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp hay quỹ đầu tư.

Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, kiểm soát tín dụng đối với các lĩnh vực rủi ro, đồng thời ưu tiên vốn cho sản xuất - kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế.

Theo VCCI, giai đoạn 2026 - 2030 sẽ là thời kỳ tăng tốc đầu tư nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn. Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng bền vững, chuyển đổi xanh và thích ứng biến đổi khí hậu ngày càng lớn, việc tháo gỡ điểm nghẽn tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực SME, không chỉ là câu chuyện riêng của ngành ngân hàng mà còn là yêu cầu quan trọng đối với mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế.

Châu Anh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục