Sau nhịp điều chỉnh mạnh vừa qua, theo ông, VN-Index có nhiều khả năng bước vào nhịp hồi kỹ thuật hay xu hướng điều chỉnh vẫn chiếm ưu thế? Nhà đầu tư cần theo dõi những tín hiệu nào để xác nhận thị trường đã tạo đáy ngắn hạn và rủi ro giảm sâu đã được thu hẹp?
Ông Trương Công Hoàng Duy, Giám đốc Kinh doanh - Trung tâm Kinh doanh 06, Chứng khoán Yuanta Việt Nam
Theo tôi, sau một nhịp điều chỉnh mạnh, xác suất thị trường xuất hiện nhịp hồi kỹ thuật là khá cao, bởi nhiều cổ phiếu đã rơi vào trạng thái quá bán và tâm lý nhà đầu tư đang ở vùng bi quan. Tuy nhiên, cần phân biệt rất rõ giữa một nhịp hồi kỹ thuật và một xu hướng tăng mới.
Tôi vẫn nghiêng về kịch bản thị trường đang trong giai đoạn tìm điểm cân bằng hơn là bước ngay vào một xu hướng tăng bền vững. Những phiên hồi nếu có sẽ chủ yếu mang tính chất kiểm định lại cung - cầu.
Ngoài yếu tố định giá đã trở nên hấp dẫn hơn sau nhịp giảm, tôi cho rằng một yếu tố đang hỗ trợ thị trường là mặt bằng lãi suất huy động nhiều khả năng đã tạo đỉnh trong chu kỳ này. Thời gian qua, lãi suất tăng chủ yếu xuất phát từ nhu cầu huy động vốn của các ngân hàng để đáp ứng tăng trưởng tín dụng, thay vì áp lực lạm phát mất kiểm soát.. Nếu lãi suất dần ổn định, áp lực lên chi phí vốn của doanh nghiệp cũng như dòng tiền vào thị trường chứng khoán sẽ giảm đáng kể.
Để xác nhận thị trường đã tạo đáy ngắn hạn, nhà đầu tư nên theo dõi đồng thời nhiều tín hiệu: thanh khoản cải thiện đi cùng đà tăng; độ rộng thị trường lan tỏa; nhóm cổ phiếu dẫn dắt như ngân hàng, chứng khoán ổn định trở lại; và thị trường không còn phản ứng tiêu cực trước các thông tin xấu. Khi những tín hiệu này xuất hiện đồng thời, khả năng thị trường bước vào xu hướng hồi phục bền vững sẽ cao hơn.
Ông Nguyễn Tiến Dũng – Trưởng phòng Nghiên cứu Ngành & Cổ phiếu CTCP CK MB (MBS)
Theo quan điểm của tôi, xác suất xuất hiện một nhịp hồi kỹ thuật đã tăng lên sau đợt bán mạnh vừa qua, nhưng chưa đủ cơ sở để khẳng định thị trường đã kết thúc xu hướng điều chỉnh. Tôi nghiêng về kịch bản thị trường có thể hồi phục do trạng thái quá bán và áp lực bán cưỡng bức được giải tỏa một phần, nhưng nhịp hồi đầu tiên nên được xem là quá trình kiểm định nguồn cung hơn là tín hiệu đảo chiều. Đáy ngắn hạn thông thường là một quá trình gồm nhiều lần kiểm định, chứ hiếm khi được xác lập chỉ bằng một phiên tăng mạnh.
Nhà đầu tư nên theo dõi đồng thời các tín hiệu về thanh khoản, độ rộng và áp lực đòn bẩy. Về thanh khoản, trong những phiên kiểm định đáy, khối lượng bán cần giảm dần, ngược lại, các phiên phục hồi phải đi kèm thanh khoản cao hơn bình quân gần nhất. Một nhịp tăng trong thanh khoản thấp chủ yếu phản ánh bên bán tạm ngừng giao dịch, chưa chắc đã thể hiện dòng tiền mới quay lại.
Về độ rộng, số cổ phiếu tăng cần lan tỏa và duy trì qua nhiều phiên, số mã giảm sàn và phá đáy phải thu hẹp. Đặc biệt, các nhóm có ảnh hưởng lớn như ngân hàng, chứng khoán, bất động sản và nhóm vốn hóa lớn cần đồng thuận tạo đáy, thay vì chỉ số được nâng đỡ bởi một vài cổ phiếu trụ.
Về áp lực đòn bẩy và dòng vốn, hiện tượng bán cưỡng bức cần chấm dứt và khối ngoại giảm cường độ bán ròng. Đây là những điều kiện quan trọng để thị trường hình thành một vùng cân bằng bền vững.
Ông Vũ Duy Khánh, Giám đốc Phân tích, CTCK Smart Invest
Theo tôi, xác suất xuất hiện một nhịp hồi kỹ thuật trong ngắn hạn đang cao hơn khả năng thị trường tiếp tục giảm sâu. Tuy nhiên, điều đó chưa đủ để khẳng định xu hướng tăng đã quay trở lại.
Sau nhịp điều chỉnh mạnh, nhiều cổ phiếu đã rơi vào trạng thái quá bán, mặt bằng định giá trở nên hấp dẫn hơn, trong khi áp lực bán giải chấp cũng phần nào được hấp thụ. Đây là những điều kiện thường tạo tiền đề cho một nhịp hồi. Dù vậy, để xác nhận thị trường bước vào xu hướng tăng mới, cần xuất hiện thêm các tín hiệu đồng thuận.
Nhà đầu tư nên theo dõi một số yếu tố quan trọng như: thanh khoản cải thiện trong các phiên tăng điểm; độ rộng thị trường tích cực với dòng tiền lan tỏa sang nhiều nhóm ngành; khối ngoại giảm bán ròng hoặc quay lại mua ròng, đặc biệt ở nhóm vốn hóa lớn; VN-Index giữ vững các vùng hỗ trợ sau nhịp hồi thay vì tạo đáy thấp hơn; đồng thời các nhóm dẫn dắt như ngân hàng, chứng khoán, bất động sản và công nghệ hình thành xu hướng tăng rõ nét.
Nếu các tín hiệu này xuất hiện đồng thời, có thể kỳ vọng rủi ro giảm sâu đã thu hẹp và khả năng hình thành xu hướng tăng mới sẽ được củng cố.
Ông Lê Đức Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK VPS
![]() |
Ông Lê Đức Khánh |
TTCK nhiều khả năng sẽ có nhịp hồi kỹ thuật đi kèm tín hiệu tạo đáy ngắn hạn tại ngưỡng 1.660 – 1.680 điểm. VN-Index vẫn có thể phục hồi quay lại mốc 1.700 – 1.720 điểm trước khi có thêm nhịp điều chỉnh tích lũy.
Việc xác nhận đáy của thị trường chung hay cổ phiếu riêng lẻ thường sẽ xuất hiện với một số điều kiện như hồi phục nhanh đi kèm tín hiệu hồi phục của nhiều cổ phiếu dẫn dắt với khối lượng giao dịch lớn và mạnh. Thanh khoản của thị trường chung bật tăng vượt 10 - 15% ít nhất so với trung bình của 7 - 15 phiên giao dịch trước đó.
Một trong những tín hiệu cần chú ý tiếp theo vẫn là bối cảnh vĩ mô không có nhiều thông tin quá tiêu cực, mọi điều kiện môi trường kinh doanh vẫn được coi là thuận lợi và hấp dẫn trong môi trường đầu tư ngày càng trở nên thách thức hơn.
Bà Châu Thiên Trúc Quỳnh, Giám đốc điều hành Khối Môi giới trong nước, CTCK VietCap
Về mặt kỹ thuật, VN-Index quay lại giảm chỉ sau một phiên hồi phục ngày 23/07, cho thấy áp lực điều chỉnh còn ở mức cao. Do đó, xác suất đang nghiêng về kịch bản chỉ số kiểm định lại vùng 1.660 điểm. Nếu vùng này bị vi phạm, mục tiêu giảm kế tiếp sẽ nằm tại khu vực 1.580 điểm. Trong trường hợp xuất hiện nhịp hồi phục, VN-Index nhiều khả năng bị cản trở quanh vùng 1.700 điểm.
Có một nghịch lý là dù thanh khoản đang ở tình trạng thấp đáng báo động nhưng dư nợ margin tại các CTCK trong quý II/2026 vẫn duy trì tăng, thậm chí lập đỉnh. Có thể lý giải như thế nào về hiện tượng này, theo ông?
Ông Trương Công Hoàng Duy, Giám đốc Kinh doanh - Trung tâm Kinh doanh 06, Chứng khoán Yuanta Việt Nam
Theo tôi, nếu chỉ nhìn vào con số thì đây đúng là một nghịch lý. Tuy nhiên, thanh khoản phản ánh mức độ giao dịch mỗi ngày, còn dư nợ margin phản ánh quy mô vốn mà nhà đầu tư đang sử dụng để nắm giữ cổ phiếu. Vì vậy, thanh khoản giảm không đồng nghĩa margin phải giảm.
Trong gần hai năm qua, dòng tiền trong nước đã trở thành lực lượng chính hấp thụ lượng bán ròng rất lớn của khối ngoại. Để duy trì lực cầu này, nhà đầu tư trong nước đã sử dụng đòn bẩy tài chính nhiều hơn, khiến dư nợ margin toàn thị trường tăng lên mức kỷ lục.
Bên cạnh đó, năng lực cung ứng margin của các công ty chứng khoán hiện nay đã khác rất nhiều so với trước. Sau nhiều đợt tăng vốn liên tiếp, nhiều công ty chứng khoán đã có quy mô vốn điều lệ lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, thậm chí tương đương nhiều ngân hàng thương mại quy mô vừa. Khi năng lực tài chính được nâng lên, hạn mức cho vay margin cũng mở rộng đáng kể, góp phần đưa dư nợ margin lên mức cao kỷ lục.
Tuy nhiên, tôi cho rằng nhà đầu tư không nên chỉ nhìn vào con số margin cao như một tín hiệu tích cực. Khi đòn bẩy đã ở mức lớn, dư địa để dòng tiền trong nước tiếp tục hấp thụ lực bán của khối ngoại sẽ dần thu hẹp. Muốn thị trường bước vào một xu hướng tăng bền vững, vẫn cần sự cải thiện của thanh khoản tự nhiên, dòng tiền tổ chức và sự quay trở lại của khối ngoại, thay vì chỉ dựa vào margin.
![]() |
Ông Trương Công Hoàng Duy |
Ông Nguyễn Tiến Dũng – Trưởng phòng Nghiên cứu Ngành & Cổ phiếu CTCP CK MB (MBS)
Cuối quý II/2026, dư nợ margin toàn thị trường được ước tính khoảng 435 nghìn tỷ đồng, tăng khoảng 30 nghìn tỷ đồng so với cuối quý I và lập mức cao lịch sử.
Thống kê sơ bộ từ 27 công ty chứng khoán đã công bố báo cáo cũng cho thấy dư nợ margin tăng khoảng 11% so với quý trước. Nguyên nhân chính là việc dòng vốn vay có xu hướng tập trung vào một số nhóm cổ phiếu, khách hàng hoặc giao dịch quy mô lớn. Khi margin tập trung vào một số tài khoản lớn, dư nợ toàn thị trường vẫn tăng nhưng dòng tiền không lan tỏa sang phần còn lại của thị trường đồng nghĩa với việc nguồn vốn tín dụng chứng khoán không chuyển hóa hoàn toàn thành vòng quay giao dịch rộng trên sàn.
Thêm nữa là việc trong giai đoạn thị trường đi ngang hoặc giảm, nhà đầu tư có xu hướng sử dụng margin để duy trì vị thế hoặc bình quân giá thay vì giao dịch liên tục. Điều này khiến vòng quay tiền giảm, trong khi dư nợ vẫn neo cao và chi phí lãi vay tiếp tục tích lũy.
Nếu xét về yếu tố nguồn cung cho margin, năng lực cung cấp margin của các công ty chứng khoán đã tăng nhanh, nhiều công ty chứng khoán tăng vốn, mở rộng nguồn vay và được hỗ trợ nguồn lực từ ngân hàng mẹ, qua đó nâng hạn mức cho vay. Quy mô nguồn cung margin vì vậy có thể tăng nhanh hơn nhu cầu giao dịch thực tế.
Ông Vũ Duy Khánh, Giám đốc Phân tích, CTCK Smart Invest
Đây là hiện tượng tưởng như nghịch lý nhưng lại khá hợp lý nếu nhìn vào cấu trúc dòng tiền. Thứ nhất, margin phản ánh quy mô tài sản đang được tài trợ, trong khi thanh khoản phản ánh lượng giao dịch mỗi ngày. Hai chỉ tiêu này không nhất thiết biến động cùng chiều.
Thứ hai, trong giai đoạn thị trường tăng kéo dài trước đó, nhiều nhà đầu tư đã sử dụng margin để nắm giữ vị thế trung hạn thay vì giao dịch liên tục. Khi thị trường điều chỉnh, họ chưa bán ngay nên dư nợ margin vẫn duy trì ở mức cao.
Thứ ba, nhiều công ty chứng khoán đã tăng mạnh vốn điều lệ trong năm 2025–2026, giúp năng lực cho vay margin được mở rộng đáng kể. Vì vậy, dư nợ có thể lập đỉnh ngay cả khi thanh khoản giao dịch suy giảm.
Ngoài ra, cần lưu ý rằng thanh khoản thấp hiện nay còn phản ánh tâm lý chờ đợi. Nhiều nhà đầu tư đang giữ cổ phiếu bằng margin nhưng hạn chế mua bán vì kỳ vọng thị trường sẽ sớm ổn định.
Điều cần theo dõi không phải chỉ là quy mô margin, mà là tỷ lệ margin trên vốn chủ sở hữu của công ty chứng khoán, tỷ lệ margin trên giá trị vốn hóa tự do chuyển nhượng và khả năng phát sinh bán giải chấp nếu thị trường tiếp tục giảm.
Ông Lê Đức Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK VPS
Các NĐT vẫn thường có thói quen sử dụng đòn bẩy trong quá trình giao dịch cho dù việc mua và nắm giữ dài với việc kiểm soát số lượng cổ phiếu nắm giữ được ưu tiên hơn.
Dù thị trường trong xu thế tăng, hoặc giảm, hoặc đi ngang thì dư nợ margin thường sẽ ở mức cao. Điều này cũng là đặc trưng điển hình ở những thị trường cận biên hay mới nổi khi số lượng các nhà đầu tư cá nhân chiếm ưu thế.
Bà Châu Thiên Trúc Quỳnh, Giám đốc điều hành Khối Môi giới trong nước, CTCK VietCap
Nguyên nhân là quy mô của thị trường chứng khoán ngày càng lớn do số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng, quy mô vốn của các doanh nghiệp niêm yết tăng, vốn chủ sở hữu của các công ty chứng khoán tăng nhanh, nên tạo điều kiện cho tổng dư nợ margin tăng lên.
![]() |
Bà Châu Thiên Trúc Quỳnh |
Tuy nhiên, dư nợ tăng nhưng thanh khoản lại không tăng, việc này có thể giải thích việc vay không đến từ những nhà đầu tư trading và tiền margin không được đưa vào trong giao dịch hàng ngày.
Nhóm vay chủ yếu đến từ các cổ đông lớn, chủ doanh nghiệp và tiền được rút ra ngoài, đầu tư vào việc khác trong bối cảnh lãi suất tăng, việc vay margin với lãi suất không cao hơn ngân hàng, thủ tục và điều kiện thuận tiện hơn là lựa chọn của các cổ đông lớn, sở hữu cổ phiếu nhiều.
Nhìn về vĩ mô, trong bối cảnh giá dầu Brent vượt 100 USD/thùng, lợi suất trái phiếu Mỹ tăng trở lại và áp lực lạm phát toàn cầu gia tăng, những yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến thị trường chứng khoán Việt Nam?
Ông Trương Công Hoàng Duy, Giám đốc Kinh doanh - Trung tâm Kinh doanh 06, Chứng khoán Yuanta Việt Nam
Đây là ba biến số mà thị trường tài chính toàn cầu luôn theo dõi rất sát vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến kỳ vọng lãi suất và dòng vốn.
Trước hết, giá dầu vượt 100 USD/thùng sẽ tạo áp lực lên chi phí đầu vào của nền kinh tế. Những doanh nghiệp sử dụng nhiều nhiên liệu như vận tải, logistics, hàng không, nhựa hay hóa chất sẽ chịu áp lực lớn hơn về biên lợi nhuận. Ngược lại, nhóm dầu khí thượng nguồn hoặc các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ dầu khí có thể hưởng lợi.
Thứ hai, lợi suất trái phiếu Mỹ tăng thường khiến tài sản bằng USD hấp dẫn hơn. Điều này có thể tạo áp lực lên tỷ giá và làm dòng vốn quốc tế trở nên thận trọng hơn với các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Thứ ba, nếu lạm phát toàn cầu quay trở lại, khả năng các ngân hàng trung ương duy trì mặt bằng lãi suất cao lâu hơn sẽ tăng lên. Điều này không thuận lợi cho định giá cổ phiếu vì chi phí vốn cao hơn và kỳ vọng lợi nhuận tương lai bị chiết khấu mạnh hơn.
Tuy nhiên, tôi cũng cho rằng thị trường Việt Nam hiện không còn phản ứng hoàn toàn theo yếu tố bên ngoài như trước. Nếu tăng trưởng kinh tế trong nước vẫn được duy trì, đầu tư công tiếp tục giải ngân tốt, FDI tích cực và lợi nhuận doanh nghiệp cải thiện thì tác động tiêu cực từ bên ngoài sẽ được giảm bớt.
Do đó, thay vì nhìn vĩ mô theo hướng "tốt hay xấu", nhà đầu tư nên đánh giá xem các yếu tố này sẽ ảnh hưởng khác nhau đến từng nhóm ngành.
Ông Nguyễn Tiến Dũng – Trưởng phòng Nghiên cứu Ngành & Cổ phiếu CTCP CK MB (MBS)
Đối với tác động đến tâm lý, giá dầu cao làm gia tăng kỳ vọng lạm phát, còn lợi suất trái phiếu tăng làm tăng tỷ suất sinh lời yêu cầu của nhà đầu tư. Điều này gây áp lực thu hẹp P/E, đặc biệt với những doanh nghiệp có lợi nhuận kỳ vọng ở tương lai xa, dòng tiền yếu hoặc sử dụng nhiều đòn bẩy. Trong bối cảnh đó, nhà đầu tư có xu hướng ưu tiên tiền mặt, cổ tức và các doanh nghiệp có lợi nhuận hiện hữu hơn là những câu chuyện tăng trưởng dài hạn chưa được kiểm chứng.
Đối với tác động lên dòng vốn và tỷ giá, lợi suất tài sản bằng USD tăng làm gia tăng chi phí cơ hội khi đầu tư vào thị trường mới nổi, qua đó có thể duy trì áp lực bán của khối ngoại. Đồng USD mạnh hơn cũng gây sức ép lên tỷ giá, hạn chế dư địa giảm lãi suất trong nước và khiến dòng tiền nội địa tiếp tục phải so sánh giữa cổ phiếu với tiền gửi hoặc trái phiếu.
Về nhóm ngành, tác động sẽ có sự phân hóa. Hưởng lợi tương đối là nhóm dầu khí thượng nguồn, dịch vụ kỹ thuật dầu khí, các doanh nghiệp có backlog liên quan đến đầu tư khai thác và một số doanh nghiệp vận tải dầu khí.
Các nhóm chịu ảnh hưởng bất lợi gồm hàng không, vận tải sử dụng nhiều nhiên liệu, hóa chất và nhựa, bán lẻ không thiết yếu, doanh nghiệp bất động sản và xây dựng có đòn bẩy cao, cũng như nhóm chứng khoán do thanh khoản thấp và chi phí vốn tăng.
Ông Vũ Duy Khánh, Giám đốc Phân tích, CTCK Smart Invest
![]() |
Ông Vũ Duy Khánh |
Giá dầu Brent vượt 100 USD/thùng cùng với lợi suất trái phiếu Mỹ tăng trở lại là hai yếu tố có tác động đồng thời đến tâm lý thị trường, dòng vốn và định giá cổ phiếu. Lợi suất trái phiếu Mỹ tăng khiến các tài sản an toàn trở nên hấp dẫn hơn, làm giảm sức hút của các thị trường mới nổi, trong khi giá dầu cao làm gia tăng áp lực lạm phát và chi phí đầu vào của doanh nghiệp. Nếu lạm phát kéo dài, kỳ vọng nới lỏng chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương có thể bị trì hoãn, qua đó ảnh hưởng đến dòng tiền trên thị trường chứng khoán.
Với Việt Nam, đồng USD mạnh lên có thể tạo áp lực lên tỷ giá, khiến dòng vốn ngoại thận trọng hơn và Ngân hàng Nhà nước phải cân đối giữa mục tiêu ổn định tỷ giá với hỗ trợ tăng trưởng.
Xét theo nhóm ngành, dầu khí thượng nguồn và dịch vụ dầu khí có thể hưởng lợi tương đối, trong khi ngân hàng, công nghệ và doanh nghiệp xuất khẩu vẫn duy trì triển vọng nếu nền tảng kinh doanh tích cực.
Ngược lại, hàng không, vận tải, nhựa, hóa chất và các doanh nghiệp tiêu dùng có biên lợi nhuận thấp sẽ chịu nhiều sức ép hơn từ chi phí đầu vào. Tuy nhiên, nếu giá dầu tăng nhờ nhu cầu kinh tế toàn cầu phục hồi, tác động tiêu cực sẽ thấp hơn so với kịch bản tăng do rủi ro địa chính trị.
Ông Lê Đức Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK VPS
Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã dần thay đổi quan điểm từ "bồ câu" sang "diều hâu" và bỏ ngỏ khả năng tăng lãi suất ở kỳ họp cuối năm. Trong bối cảnh giá dầu tăng cao trở lại, áp lực lạm phát gia tăng - lãi suất có tín hiệu tăng trở lại sẽ gây áp lực cho thu nhập của DN.
Mặc dù vẫn có những nhóm ngành nghề tiếp tục "ăn nên làm ra" nhưng vẫn có nhiều ngành gặp những khó khăn hơn như ngành bất động sản, thương mại, tài nguyên cơ bản.
Tâm lý nhà đầu tư trở nên thận trọng hơn, diễn biến phân hóa tiếp tục ở các nhóm DN niêm yết. Các NĐT vẫn sẽ tiếp tục lựa chọn các DN điển hình để đầu tư và quá trình lựa chọn sẽ trở nên thách thức hơn khi thời điểm đầu tư hay giao dịch ngắn hạn cũng sẽ cần phải chú ý.
Với thanh khoản còn thận trọng và xu hướng ngắn hạn chưa thực sự rõ ràng, nhà đầu tư nên ưu tiên chiến lược quản trị danh mục như thế nào? Tỷ trọng cổ phiếu - tiền mặt nên được phân bổ ra sao?
Ông Trương Công Hoàng Duy, Giám đốc Kinh doanh - Trung tâm Kinh doanh 06, Chứng khoán Yuanta Việt Nam
Ở giai đoạn hiện nay, điều quan trọng nhất không phải là cố gắng mua đúng đáy mà là giữ được vị thế để tận dụng cơ hội khi xu hướng thực sự xác nhận.
Tôi ưu tiên chiến lược quản trị rủi ro, hạn chế sử dụng đòn bẩy cao. Với nhà đầu tư ngắn hạn, có thể duy trì tỷ trọng khoảng 40–50% cổ phiếu và 50–60% tiền mặt. Với nhà đầu tư trung và dài hạn, có thể nâng tỷ trọng cổ phiếu lên khoảng 60–70%, tập trung vào những doanh nghiệp có nền tảng cơ bản tốt và triển vọng tăng trưởng rõ ràng.Tôi cũng không khuyến khích mua đuổi trong những phiên tăng mạnh.
Chiến lược phù hợp hơn là giải ngân từng phần khi thị trường xác nhận xu hướng, ưu tiên các cổ phiếu giữ nền giá tốt, thanh khoản cải thiện và có sự tham gia của dòng tiền tổ chức. Kỷ luật quản trị rủi ro vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay.
Ông Nguyễn Tiến Dũng – Trưởng phòng Nghiên cứu Ngành & Cổ phiếu CTCP CK MB (MBS)
![]() |
Ông Nguyễn Tiến Dũng |
Trong bối cảnh hiện tại, với một danh mục có mức chấp nhận rủi ro trung bình, tôi đề xuất duy trì khoảng 20–30% cổ phiếu và 70–80% tiền mặt hoặc tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, đồng thời, chưa nên sử dụng margin cho đến khi thị trường hình thành cấu trúc đáy rõ ràng hơn.
Phần cổ phiếu 20–30% nên tập trung vào các doanh nghiệp có tăng trưởng lợi nhuận năm 2026–2027 tương đối rõ ràng, ROE ổn định hoặc cải thiện, bảng cân đối tài chính lành mạnh, nợ vay thấp hoặc có vị thế tiền mặt ròng, khả năng trả cổ tức tiền mặt đều đặn, thanh khoản cổ phiếu đủ lớn, định giá đã phản ánh phần đáng kể rủi ro ngắn hạn.
Nếu vùng 1.660 điểm bị phá vỡ với áp lực bán tăng, nên hạ thêm tỷ trọng để bảo toàn nguồn lực thay vì bình quân giá trên diện rộng. Điều quan trọng nhất thời điểm hiện tại là tinh thần “Bảo toàn tài sản – Chờ đợi thời cơ”, điều này có nghĩa là duy trì đủ tiền mặt, không để đòn bẩy buộc mình phải hành động và chỉ giải ngân khi thị trường xuất hiện những tín hiệu xác nhận đủ rõ ràng.
Ông Vũ Duy Khánh, Giám đốc Phân tích, CTCK Smart Invest
Trong bối cảnh hiện nay, tôi cho rằng điều quan trọng nhất không phải là cố dự báo chính xác đáy thị trường, mà là quản trị rủi ro và giữ đủ sức mua để tận dụng cơ hội khi xu hướng được xác nhận.
Chiến lược phù hợp là không sử dụng đòn bẩy cao, chỉ giải ngân từng phần khi thị trường xuất hiện các tín hiệu xác nhận; Ưu tiên doanh nghiệp có nền tảng cơ bản tốt, tăng trưởng lợi nhuận rõ ràng và định giá hợp lý và hạn chế mua đuổi trong các phiên hồi mạnh. Nếu xu hướng vẫn chưa được xác nhận, tôi nghiêng về tỷ trọng 50–60% cổ phiếu và 40–50% tiền mặt.
Ông Lê Đức Khánh, Giám đốc phân tích, CTCK VPS
Việc lựa chọn chiến lược nắm một lượng cổ phiếu chất lượng cao, định giá hấp dẫn đại diện các nhóm ngành cơ bản, đại diện cho các DNNY trên TTCK Việt Nam sẽ được ưu tiên hơn.
Việc mua và đầu tư cổ phiếu với tầm nhìn dài hơn vẫn sẽ là phương châm đầu tư ổn định và bền bỉ qua năm tháng. Tỷ trọng cổ phiếu/tiền mặt nắm giữ có lẽ là 40 - 60% với số đông sẽ là phù hợp.
TTCK sẽ sớm quay lại pha phục hồi tốt và việc kiên nhẫn giữ vững vị thế danh mục an toàn vẫn nên được áp dụng cho dù việc hành động theo đúng phương châm đầu tư thận trọng với tầm nhìn dài cũng không hề được hiểu đúng và dễ dàng.
Bà Châu Thiên Trúc Quỳnh, Giám đốc điều hành Khối Môi giới trong nước, CTCK VietCap
Tỷ trọng cổ phiếu nên thấp hơn tiền mặt và hạn chế dùng margin để đảm bảo khi thị trường giảm vẫn còn cơ hội để mua và có sức mua khi cần.




