Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng chất lượng dòng vốn

(ĐTCK) Trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, tín dụng ngân hàng tiếp tục được kỳ vọng là nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, khi dư địa chính sách tiền tệ không còn nhiều và tỷ lệ tín dụng/GDP ở mức cao, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng tín dụng, mà còn phải nâng cao chất lượng dòng vốn, hướng vào các lĩnh vực tạo giá trị gia tăng và động lực tăng trưởng bền vững.
Bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước

Năm 2026 khởi đầu trong bối cảnh đặc biệt khi vừa là năm bản lề triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, vừa đặt ra yêu cầu tăng trưởng cao trong điều kiện kinh tế toàn cầu nhiều biến động.

Mục tiêu GDP từ 10% trở lên đi kèm nhiệm vụ kiểm soát lạm phát khoảng 4,5%, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính.

Trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ không còn quá rộng, tín dụng ngân hàng tiếp tục được kỳ vọng là động lực quan trọng của tăng trưởng, song yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô vốn mà còn bảo đảm dòng tín dụng đi đúng lĩnh vực ưu tiên, tạo hiệu quả lan tỏa thực chất cho nền kinh tế.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, tín dụng ngân hàng tiếp tục được kỳ vọng là một trong những nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng.

Tuy nhiên, khi dư địa chính sách tiền tệ không còn quá rộng, tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới khoảng 145%, trong khi áp lực lãi suất, tỷ giá và rủi ro hệ thống cùng hiện hữu, yêu cầu đặt ra không chỉ là “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là làm sao để dòng vốn đi đúng nơi cần đến, đúng lĩnh vực ưu tiên và tạo ra hiệu quả lan tỏa thực sự cho nền kinh tế.

Nói cách khác, tín dụng không chỉ là công cụ hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn, mà đang trở thành một cấu phần quan trọng trong bài toán ổn định kinh tế vĩ mô và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Dòng vốn tín dụng hướng vào lĩnh vực ưu tiên

Những tháng đầu năm 2026, kinh tế - tài chính toàn cầu tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Căng thẳng địa chính trị gia tăng, đặc biệt là sự leo thang xung đột tại Trung Đông, khiến giá năng lượng và chi phí vận tải quốc tế tăng mạnh, kéo theo áp lực lạm phát quay trở lại tại nhiều nền kinh tế lớn.

Cùng với đó là chính sách tiền tệ thận trọng của các ngân hàng trung ương lớn, xu hướng duy trì mặt bằng lãi suất cao lâu hơn dự kiến và những biến động mới trong thương mại toàn cầu.

Đối với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, các cú sốc từ bên ngoài nhanh chóng truyền dẫn vào trong nước, tạo áp lực lên tỷ giá, cán cân thương mại, chi phí đầu vào và sức chống chịu của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được đà phục hồi tích cực. GDP quý I/2026 tăng 7,83% so với cùng kỳ, mức cao nhất của quý đầu năm trong vòng 15 năm trở lại đây. Dòng vốn FDI tiếp tục tăng khá, xuất khẩu giữ nhịp tăng trưởng tích cực, niềm tin thị trường từng bước được cải thiện.

Dẫu vậy, phía sau các con số khả quan vẫn còn không ít thách thức. Áp lực lạm phát có xu hướng gia tăng khi giá hàng hóa thế giới biến động mạnh; cán cân thương mại xuất hiện nhập siêu; tiêu dùng trong nước phục hồi chưa đồng đều; giải ngân đầu tư công vẫn còn những điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ; khả năng hấp thụ vốn của một bộ phận doanh nghiệp chưa thực sự cải thiện rõ nét.

Trong bối cảnh đó, bám sát các chủ trương, định hướng, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp về tiền tệ, tín dụng nhằm thực hiện đồng thời nhiều mục tiêu: kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ thống, đồng thời hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Trong đó, các giải pháp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực được triển khai quyết liệt, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận vốn, phù hợp với sức hấp thụ của nền kinh tế.

Tín dụng đang trở thành một cấu phần quan trọng trong bài toán ổn định kinh tế vĩ mô và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025 và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước. Tín dụng tăng dần qua từng tháng, phản ánh sự phục hồi của nhu cầu vốn cũng như hiệu quả từ các giải pháp điều hành.

Cơ cấu tín dụng tiếp tục được phân bổ tương đối phù hợp với cơ cấu các ngành kinh tế: tín dụng lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 6%, công nghiệp - xây dựng chiếm 23,5% và khu vực dịch vụ chiếm 70,5%.

Đáng chú ý, tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên tiếp tục được thúc đẩy theo đúng định hướng. Dư nợ cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 4,3 triệu tỷ đồng, chiếm 22,2% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt gần 3,8 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 20% tổng dư nợ.

Bên cạnh đó, tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao ghi nhận mức tăng trưởng mạnh ngay trong quý I/2026, lần lượt tăng 11,2% và 18,81%.

Những con số này cho thấy dòng vốn đang được định hướng ngày càng rõ nét hơn vào các khu vực tạo ra năng suất, việc làm, năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng dài hạn cho nền kinh tế.

Đồng bộ giải pháp tín dụng để khơi thông dòng vốn

Để đạt được kết quả trên, thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tín dụng trên cả phương diện thể chế, điều hành chính sách và tháo gỡ vướng mắc thực tiễn.

Trước hết là việc thường xuyên rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng đối với ngành, lĩnh vực nhằm bảo đảm tính đồng bộ với Luật Các tổ chức tín dụng, đồng thời cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Mục tiêu không chỉ dừng ở việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, mà còn hướng tới cải cách thủ tục, đơn giản hóa quy trình, thúc đẩy chuyển đổi số và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng với ngân hàng.

Chỉ riêng trong năm 2025, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ ban hành một nghị định và ban hành theo thẩm quyền hai thông tư liên quan đến tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; sửa đổi quy định về nghiệp vụ thư tín dụng; hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng.

Bước sang năm 2026, cơ quan quản lý tiếp tục hoàn thiện hai nghị định của Chính phủ, một quyết định của Thủ tướng Chính phủ cùng năm thông tư liên quan đến hỗ trợ lãi suất đối với các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn, ESG; tín dụng ưu đãi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia; cấp tín dụng vượt giới hạn; cho thuê tài chính; mua bán nợ; bao thanh toán; cho vay đầu tư ra nước ngoài và cho vay đối với khách hàng.

Thứ hai, công tác chỉ đạo, điều hành tín dụng theo ngành, lĩnh vực được triển khai quyết liệt thông qua hệ thống chỉ thị, công văn, hội nghị và các cuộc họp chuyên đề. Tín dụng được định hướng rõ vào các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên theo dõi diễn biến thị trường để kịp thời có chỉ đạo riêng đối với các ngành quan trọng như lúa gạo, cà phê, nông nghiệp, xuất nhập khẩu...

Gần đây nhất, trước tác động của chiến tranh Trung Đông và biến động năng lượng toàn cầu, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi về ngoại tệ và tín dụng cho các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, dự trữ và kinh doanh xăng dầu.

Thứ ba, chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tiếp tục được triển khai sâu rộng và thực chất hơn. Từ đầu năm 2026 đến nay, đã có hơn 1.000 buổi gặp gỡ, đối thoại trực tiếp giữa ngân hàng với doanh nghiệp và người dân tại các địa phương trên cả nước. Đây không chỉ là kênh tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng, mà còn là cơ chế phản hồi quan trọng, giúp công tác điều hành tín dụng bám sát thực tiễn hơn.

Thứ tư, các chương trình tín dụng đối với ngành, lĩnh vực theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ tiếp tục được đẩy mạnh, với lãi suất thấp, ưu đãi từ chính nguồn lực của các tổ chức tín dụng.

Yêu cầu đặt ra không chỉ là "bơm thêm vốn", mà quan trọng hơn là làm sao để dòng vốn đi đúng nơi cần đến, đúng lĩnh vực ưu tiên và tạo ra hiệu quả lan tỏa thực sự cho nền kinh tế.

Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản đã được nâng quy mô lên gấp 4 lần, với doanh số giải ngân lũy kế đạt khoảng 185.500 tỷ đồng cho khoảng 63.000 lượt khách hàng vay vốn, hoàn thành mục tiêu đề ra.

Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định 1490/QĐ-TTg đã giải ngân khoảng 3.800 tỷ đồng. Chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP đã cam kết cho vay gần 20.500 tỷ đồng, doanh số giải ngân đạt khoảng 9.900 tỷ đồng.

Đặc biệt, chương trình tín dụng đầu tư hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược - một chương trình hoàn toàn mới - đã ký hợp đồng tín dụng cho 8 dự án với tổng mức cam kết cấp tín dụng khoảng 70.932 tỷ đồng, giải ngân khoảng 7.600 tỷ đồng.

Đây là những dòng vốn mang tính dẫn dắt, không chỉ phục vụ tăng trưởng trong ngắn hạn mà còn trực tiếp hỗ trợ các đột phá chiến lược về hạ tầng, năng lượng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ năm, ngành ngân hàng tích cực triển khai các nhiệm vụ liên quan đến tín dụng tại các nghị quyết, chỉ thị, kết luận lớn của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, các chiến lược quốc gia, dự án trọng điểm và các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, chưa có tiền lệ (như Nghị quyết đặc thù về phát triển Thủ đô Hà Nội, điện hạt nhân Ninh Thuận...).

Thứ sáu, các chương trình tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội tiếp tục phát huy hiệu quả rõ nét. Dư nợ tín dụng chính sách đạt 437.700 tỷ đồng, với hơn 6,7 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ, góp phần quan trọng vào giảm nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Tăng trưởng bền vững là bài toán tổng thể của nền kinh tế

Dù đạt được những kết quả tích cực, song nhìn rộng hơn, hoạt động tín dụng vẫn đang đối diện với nhiều áp lực lớn.

Thách thức đầu tiên đến từ môi trường bên ngoài, khi gián đoạn chuỗi cung ứng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chính sách thuế đối ứng, xung đột quân sự và giá năng lượng leo thang tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của người dân và doanh nghiệp, từ đó tác động đến việc mở rộng tín dụng cũng như chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng.

Nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng (tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 khoảng 145%), trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng. Bên cạnh đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn ở mức lớn, đặc biệt đối với các dự án, công trình trọng điểm, dẫn tới rủi ro kỳ hạn khi nguồn vốn huy động bằng VND chủ yếu vẫn là ngắn hạn (chiếm gần 80%).

Ngoài ra, tín dụng từ đầu năm đến nay luôn có tốc độ tăng cao hơn so với huy động vốn, khiến khoảng cách chênh lệch giữa tín dụng và huy động ngày càng nới rộng, tạo áp lực lên hệ thống ngân hàng trong huy động, cân đối và bảo đảm nguồn lực cung ứng tín dụng nhằm góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Điều đó khẳng định một thực tế rõ ràng: để dòng vốn thực sự phát huy hiệu quả, cần một giải pháp tổng thể từ toàn bộ hệ thống chính sách.

Theo đó, cần duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn định để củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài; đẩy nhanh giải ngân đầu tư công nhằm tạo hiệu ứng lan tỏa sang khu vực tư nhân; phát triển mạnh thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để chia sẻ gánh nặng vốn trung và dài hạn với hệ thống ngân hàng; tiếp tục cải cách thể chế, tháo gỡ thủ tục đầu tư - kinh doanh nhằm nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Đây cũng là nền tảng quan trọng để góp phần xây dựng một nền kinh tế có sức chống chịu tốt hơn, linh hoạt hơn và bền vững hơn trong dài hạn.

Hà Thu Giang
Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục