Nghị quyết 79-NQ/TW xác định định hướng nguồn vốn nhà nước phải bảo đảm DNNN thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước
Yêu cầu mới
Sau hơn 30 năm sắp xếp, đổi mới, số lượng DNNN đã giảm mạnh, từ hơn 12.000 doanh nghiệp vào đầu thập niên 1990 xuống còn 697 doanh nghiệp hiện nay. Trong đó, có 497 doanh nghiệp Nhà nước đang nắm giữ 100% vốn điều lệ và 200 doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ.
Đây không chỉ là câu chuyện thu hẹp về số lượng. Cùng với quá trình sắp xếp, khu vực DNNN từng bước tập trung hơn vào những ngành, lĩnh vực Nhà nước cần nắm giữ, đặc biệt là các lĩnh vực quan trọng, thiết yếu của nền kinh tế. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tiếp tục giữ vai trò đáng kể trong lĩnh vực năng lượng, viễn thông, tài chính, hạ tầng và công nghiệp nền tảng.
Nhưng bước sang giai đoạn 2026 - 2030, yêu cầu đặt ra đã khác. Nếu những giai đoạn trước, tái cơ cấu DNNN chủ yếu được nhìn nhận qua các nhiệm vụ cổ phần hóa, thoái vốn, sắp xếp lại doanh nghiệp và thu hẹp những lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ thì giai đoạn mới đặt DNNN trước một yêu cầu cao hơn, phải trở thành những lực lượng đủ mạnh để dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực then chốt, đồng thời sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn nhà nước.
Nghị quyết 79 cũng đặt ra mục tiêu rất cụ thể: Đến năm 2030, có khoảng 50 DNNN lọt Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1 - 3 doanh nghiệp lọt Top 500 doanh nghiệp lớn nhất toàn cầu. Tầm nhìn đến năm 2045 là có 5 đại diện trong Top 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Theo ông Vũ Hồng Phương, Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính, thực tế giai đoạn 2021 - 2025 cho thấy quá trình cơ cấu lại vốn nhà nước đã đạt những kết quả nhất định, nhưng tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn vẫn chậm; một số doanh nghiệp còn tồn tại về tài chính, đất đai; việc xác định giá trị doanh nghiệp, đặc biệt là giá trị quyền sử dụng đất và tài sản vô hình còn nhiều khó khăn. Tại một số doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn nhà nước còn thấp, đầu tư dàn trải vẫn tồn tại, trong khi cơ chế giám sát và đánh giá người đại diện vốn nhà nước chưa thực sự gắn chặt với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Những vấn đề này cho thấy câu chuyện được quan tâm trong giai đoạn tới là phần vốn Nhà nước đang sở hữu được sử dụng như thế nào và tạo ra giá trị gì cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước xác định định hướng nguồn vốn nhà nước phải bảo đảm DNNN thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; đồng thời, thúc đẩy đầu tư vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao hiệu quả quản trị và tiếp tục cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Như vậy, tái cơ cấu vốn nhà nước trong giai đoạn mới cần được nhìn theo hai chiều, thoái khỏi nơi Nhà nước không cần nắm giữ và tập trung nguồn lực vào nơi Nhà nước cần một lực lượng đủ mạnh để thực hiện vai trò dẫn dắt.
Kiến tạo lực lượng dẫn dắt
Một thay đổi quan trọng trong tư duy tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2026 - 2030 là yêu cầu xây dựng một nhóm DNNN mạnh, quy mô lớn, có khả năng đóng vai trò tiên phong trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế.
Theo đó, Bộ Tài chính dự kiến đề xuất Chính phủ về danh mục DNNN mạnh, quy mô lớn, đóng vai trò dẫn dắt. Trên cơ sở đó, các cơ quan đại diện chủ sở hữu sẽ chỉ đạo những doanh nghiệp thuộc danh mục này xây dựng đề án phát triển doanh nghiệp tiên phong, dẫn dắt, với mục tiêu, giải pháp, nhiệm vụ và lộ trình cụ thể.
Điều này hàm ý một cách tiếp cận khác với việc cơ cấu lại đồng loạt. Không phải mọi DNNN đều cần mở rộng quy mô, cũng không phải mọi doanh nghiệp đều cần tiếp tục duy trì tỷ lệ sở hữu cao của Nhà nước. Ngược lại, nguồn lực nhà nước cần được phân bổ có trọng tâm hơn, doanh nghiệp nào có khả năng thực hiện vai trò chiến lược thì cần được tạo điều kiện để phát triển, lĩnh vực nào khu vực tư nhân có thể tham gia hiệu quả thì tiếp tục mở rộng không gian cho khu vực tư nhân.
Định hướng này đã được thể hiện trong quá trình phân loại DNNN, thể hiện rõ trong Quyết định số 40/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Nhà nước tập trung nắm giữ 100% vốn tại các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, độc quyền tự nhiên, hạ tầng thiết yếu và những ngành có vai trò điều tiết nền kinh tế; đồng thời, giảm tỷ lệ sở hữu hoặc thoái vốn tại những lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể tham gia hiệu quả hơn.
Nếu vốn là nguồn lực thì quản trị sẽ quyết định khả năng biến nguồn lực đó thành giá trị. Đây là lý do Kết luận 18-KL/TW đặt trọng tâm vào đổi mới kinh tế nhà nước, trong đó nhấn mạnh quản trị DNNN theo các chuẩn mực quốc tế, tăng cường hiệu quả và vai trò dẫn dắt của DNNN trong một số lĩnh vực quan trọng. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo nguyên tắc hiệu quả, không để thất thoát, lãng phí.
Giới chuyên gia đánh giá, tư duy này có thể xem là một trong những trục quan trọng nhất của tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2026 - 2030. Bởi nếu chỉ thay đổi tỷ lệ sở hữu mà không thay đổi phương thức quản trị, hiệu quả sử dụng vốn khó có thể tạo ra bước chuyển tương xứng. Trong giai đoạn mới, DNNN cần được đặt trong yêu cầu quản trị hiện đại hơn: mục tiêu rõ ràng, trách nhiệm rõ ràng, đánh giá hiệu quả rõ ràng và cơ chế giám sát vốn nhà nước gắn chặt hơn với kết quả hoạt động. Đặc biệt, trách nhiệm của người đại diện phần vốn nhà nước không thể chỉ được đánh giá qua việc “bảo toàn vốn”, mà cần gắn với hiệu quả của nguồn vốn và mục tiêu phát triển doanh nghiệp trong phạm vi được giao.
Trong cách thức triển khai tái cơ cấu DNNN giai đoạn 2026 - 2030, Thủ tướng Chính phủ không ban hành một quyết định chung phê duyệt Đề án cơ cấu lại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước và DNNN như giai đoạn 2021 - 2025. Thay vào đó, các tập đoàn, tổng công ty và DNNN sẽ căn cứ Luật Quản lý và Đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp cùng các nghị định hướng dẫn để xây dựng chiến lược phát triển tối thiểu 5 năm và kế hoạch cơ cấu lại vốn theo thẩm quyền. Kế hoạch cơ cấu lại vốn phải căn cứ vào tiêu chí phân loại DNNN, doanh nghiệp có vốn nhà nước và mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.
Cách tiếp cận này mở ra không gian để quá trình tái cơ cấu được thiết kế sát hơn với đặc điểm từng doanh nghiệp. Thực tế, doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất thiết yếu với đời sống dân sinh sẽ có bài toán khác với doanh nghiệp thương mại thuần túy, doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt ngành sẽ có chiến lược khác với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần tiếp tục duy trì tỷ lệ sở hữu chi phối.
Định hướng trên không có nghĩa là cổ phần hóa, thoái vốn là nhiệm vụ không được ưu tiên. Ngược lại, Kết luận 18-KL/TW tiếp tục đặt yêu cầu đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, nhấn mạnh điều kiện đi kèm là phải bảo đảm hiệu quả, không làm thất thoát, lãng phí.
Luật Quản lý và Đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/8/2025, cùng Nghị định 57/2026/NĐ-CP đã tạo khung pháp lý mới cho nhiều hình thức cơ cấu lại vốn nhà nước như cổ phần hóa, thoái vốn, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể doanh nghiệp, chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước và chuyển giao dự án, vốn, tài sản của DNNN.
Theo ông Nguyễn Đức Kiên, chuyên gia kinh tế, qua 9 nghị quyết đã được Bộ Chính trị ban hành, có thể thấy nền kinh tế Việt Nam được định hình ở thế kiềng ba chân, đó là khu vực nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Về mặt thể chế, chúng ta đã hình thành và củng cố vững chắc tư duy về một nền kinh tế muốn tăng trưởng ở quy mô lớn cần cả DNNN mạnh lẫn khu vực tư nhân năng động. Khu vực DNNN có thể trở thành lực lượng đầu tư cho những lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian dài, công nghệ cao hoặc có ý nghĩa nền tảng đối với năng lực cạnh tranh quốc gia, trong khi khu vực tư nhân có thêm không gian để tham gia những thị trường mà họ có lợi thế.