Phía sau cuộc đua lãi suất tiết kiệm

(ĐTCK) Cuộc đua lãi suất huy động đang diễn ra âm thầm qua những cuộc điện thoại, tin nhắn chăm sóc khách hàng, hay các chương trình ưu đãi dành riêng cho từng nhóm người gửi tiền.
Mới đây, ACB đã điều chỉnh tăng thêm 0,5%/năm lãi suất tiết kiệm đối với các kỳ hạn từ 6 - 12 tháng

Tăng lãi suất, từ công khai tới âm thầm

Chị Nguyễn Huyền, trú tại phường Tây Hồ, Hà Nội kể, vài ngày trước, chị bất ngờ nhận được tin nhắn từ một nhân viên ngân hàng quen với nội dung: “Em gửi chị lãi suất ưu đãi mới nhất của MBV. Với khoản tiền gửi từ 100 triệu đồng trở lên, kỳ hạn 6 tháng được hưởng lãi suất 8,75 - 8,86%/năm; kỳ hạn 9 tháng là 8,93 - 9,04%/năm; kỳ hạn 12 tháng từ 8,87 - 9,22%/năm; kỳ hạn 13 tháng lên tới 9,28%/năm, kèm quà tặng...”. Nhân viên này cũng không quên nhắn nhủ: “Có khoản nào gửi, chị nhắn em nhé!”.

Câu chuyện tương tự cũng diễn ra với anh Ngọc Dương ở phường Cầu Giấy, Hà Nội. Anh Dương cho biết vừa nhận được cuộc gọi mời gửi tiết kiệm từ một nhân viên Ngân hàng MB, đồng thời được cấp riêng một mã giới thiệu. Khi đăng nhập vào ứng dụng ngân hàng, anh thấy biểu lãi suất vẫn hiển thị như lãi suất niêm yết công khai. Nhưng khi nhập mã giới thiệu, mức lãi suất được điều chỉnh cao hơn hẳn. Được biết, chương trình này được MB triển khai từ tháng 5 và đến nay vẫn được duy trì như một hình thức chăm sóc khách hàng có chọn lọc.

Mặt bằng lãi suất niêm yết công khai cũng cho thấy xu hướng đi lên ở một số nhà băng. Chẳng hạn, ngày 20/7/2026, ACB điều chỉnh tăng thêm 0,5%/năm lãi suất tiết kiệm đối với các kỳ hạn từ 6 - 12 tháng. Theo đó, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 6 tháng được nâng lên 7,6%/năm, kỳ hạn 9 tháng lên 7,7%/năm và kỳ hạn 12 tháng lên 7,8%/năm.

Cũng có tổ chức tín dụng không điều chỉnh lãi suất tiết kiệm nhưng lại gia tăng các khoản thưởng hoặc quà tặng để giữ chân người gửi tiền. Dù phương thức khác nhau, nhưng điểm chung là các ngân hàng chấp nhận chi trả nhiều hơn để thu hút nguồn tiền gửi.

Theo ông Phan Quốc Bửu, Giám đốc Trung tâm Phân tích và Nghiên cứu, Công ty Chứng khoán BIDV (BSC), mặt bằng lãi suất nhiều khả năng đã tiến gần vùng đỉnh và sẽ duy trì tương đối ổn định trong nửa cuối năm. Dư địa để lãi suất giảm thêm không còn nhiều, nhưng khả năng tăng mạnh cũng không lớn. Nếu mặt bằng lãi suất tiếp tục đi lên, áp lực sẽ nhanh chóng lan sang lãi suất cho vay, từ đó làm tăng chi phí vốn của doanh nghiệp và ảnh hưởng tới nhu cầu tín dụng của nền kinh tế.

Theo ông Bửu, nguyên nhân khiến lãi suất chịu áp lực trong thời gian qua đến từ sự chênh lệch ngày càng lớn giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động vốn. Hiện khoảng cách giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi đã lên tới 2,6 triệu tỷ đồng, phản ánh nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng nhanh hơn đáng kể so với khả năng huy động của hệ thống ngân hàng.

Một yếu tố khác cũng được BSC lưu ý là lượng tiền gửi rất lớn của Kho bạc Nhà nước. Theo ước tính, quy mô tiền gửi của Kho bạc hiện ở mức 1,6 - 1,7 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 15% tổng tiền gửi của toàn nền kinh tế. Đây là nguồn vốn lớn nhưng chưa thực sự lưu thông vào nền kinh tế, khiến thanh khoản của hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực trong bối cảnh nhu cầu tín dụng tăng lên.

Điểm nghẽn ở cấu trúc dòng tiền

Cuộc đua lãi suất không chỉ phản ánh nhu cầu huy động vốn của các ngân hàng mà còn cho thấy vấn đề lớn hơn nhiều của nền kinh tế. Dù tiếp cận từ những góc nhìn khác nhau, các tổ chức nghiên cứu đều gặp nhau ở luận điểm: áp lực đối với mặt bằng lãi suất hiện nay không bắt nguồn từ cuộc cạnh tranh huy động vốn đơn thuần, mà phản ánh những thay đổi trong cấu trúc dòng tiền của nền kinh tế.

Ông Vũ Bình Minh, CFA, Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và Dịch vụ chứng khoán HSBC Việt Nam cho rằng, việc mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức cao trong nửa đầu năm là diễn biến phù hợp với trạng thái của một nền kinh tế đang tăng trưởng nhanh. Khi nhu cầu tín dụng luôn tăng nhanh hơn tốc độ huy động, áp lực lên nguồn vốn của hệ thống ngân hàng là điều khó tránh khỏi. Bên cạnh đó, việc duy trì chênh lệch lãi suất VND - USD ở mức hợp lý cũng là yêu cầu cần thiết để ổn định kỳ vọng tỷ giá trong bối cảnh thị trường tài chính quốc tế còn nhiều biến động.

Theo ông Minh, thay vì lựa chọn những biện pháp điều hành mang tính hành chính, Ngân hàng Nhà nước thời gian qua đã sử dụng linh hoạt các công cụ thị trường mở và nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ để vừa bảo đảm thanh khoản của hệ thống, vừa ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát. Cách điều hành này giúp thị trường tiền tệ vận hành ổn định hơn ngay cả khi sức ép lên thanh khoản ngày càng lớn.

Nếu nhìn ở góc độ dòng vốn, bài toán còn phức tạp hơn. Theo bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Khối Nghiên cứu MBS, áp lực đối với lãi suất không chỉ đến từ tốc độ tăng trưởng tín dụng mà còn xuất phát từ sự thay đổi trong dòng chảy của tiền gửi. Khi nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng lớn, một phần dòng tiền của người dân lại dịch chuyển sang những kênh đầu tư khác như vàng, USD hay bất động sản (khiến tốc độ quay vòng vốn trong hệ thống ngân hàng chậm lại), buộc các ngân hàng phải duy trì mức lãi suất huy động đủ hấp dẫn để giữ chân người gửi tiền.

Không chỉ vậy, hệ thống ngân hàng còn đang đối mặt với sự lệch pha về kỳ hạn vốn. Hiện khoảng 80% tiền gửi của khách hàng là các khoản có kỳ hạn dưới 6 tháng, trong khi nhu cầu vốn của nền kinh tế, đặc biệt cho đầu tư hạ tầng và các dự án trung, dài hạn, lại ngày càng lớn. Khoảng cách giữa nguồn vốn ngắn hạn và nhu cầu cho vay dài hạn khiến áp lực huy động vốn dài hạn chưa thể giảm bớt, qua đó, tạo sức ép lên mặt bằng lãi suất.

Một yếu tố khác cũng được chuyên gia MBS lưu ý là chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng vẫn chưa cải thiện đáng kể. Nợ xấu và nợ nhóm 2 vẫn ở mức cao trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu có xu hướng giảm. Điều này đồng nghĩa các ngân hàng sẽ còn phải dành thêm nguồn lực cho trích lập dự phòng trong thời gian tới, làm gia tăng chi phí vốn và hạn chế khả năng giảm lãi suất huy động cũng như lãi suất cho vay. Bên cạnh đó, việc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tiếp tục xu hướng tăng lãi suất cũng có thể tạo ra sự dịch chuyển của dòng vốn trong khu vực, gián tiếp gây thêm áp lực lên nguồn vốn trong nước.

Ở góc nhìn khác, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, những giải pháp điều hành gần đây như cho phép ngân hàng thương mại được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), hay nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn sẽ góp phần giảm bớt áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, các biện pháp này chủ yếu mang tính hỗ trợ trong ngắn hạn và chưa thể giải quyết triệt để những vấn đề mang tính cấu trúc của thị trường vốn.

Đồng quan điểm, bà Đoàn Thị Ánh Nguyệt, chuyên gia cao cấp ngành tài chính của Công ty Chứng khoán SHS kỳ vọng, mặt bằng lãi suất huy động sẽ ổn định hơn trong nửa cuối năm nhờ các giải pháp hỗ trợ thanh khoản và tiến độ giải ngân đầu tư công được cải thiện. Tuy nhiên, khả năng giảm mạnh của lãi suất vẫn không được đánh giá cao khi nhu cầu vốn của nền kinh tế được dự báo sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao.

Nhìn từ góc độ đó, điều thị trường đang chứng kiến không đơn thuần là cuộc đua giữa các ngân hàng để hút tiền gửi. Phía sau mỗi lần điều chỉnh lãi suất là bài toán cân bằng dòng vốn cho cả nền kinh tế. Chừng nào những điểm nghẽn về cấu trúc vốn chưa được tháo gỡ, lãi suất có thể không tăng mạnh hơn, nhưng cũng sẽ rất khó quay trở lại vùng thấp như giai đoạn trước.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục