Niềm tin thị trường là nền tảng mở rộng các kênh dẫn vốn

(ĐTCK) Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao và bền vững hơn, nhu cầu huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực phát triển ngày càng trở nên cấp thiết.
Điều kiện tiên quyết để mở rộng các kênh dẫn vốn là củng cố niềm tin của nhà đầu tư trên nền tảng minh bạch và chất lượng thông tin

Theo TS. Đào Minh Tú, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng trong cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhưng không thể tiếp tục là kênh trang trải hầu hết các nhu cầu vốn như trong thời gian qua. Để thị trường tài chính phát huy tốt hơn vai trò huy động nguồn lực trung và dài hạn, điều kiện tiên quyết là củng cố niềm tin của nhà đầu tư trên nền tảng minh bạch và chất lượng thông tin.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao hơn và bền vững hơn, bài toán “nguồn lực cho nền kinh tế” theo ông đang thay đổi như thế nào?

TS. Đào Minh Tú, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam

Nếu như trước đây, khi nói đến nguồn lực cho tăng trưởng, chúng ta thường nghĩ tới hai nguồn vốn chủ yếu là ngân sách nhà nước và tín dụng ngân hàng, nhưng đến nay thì cách tiếp cận nguồn lực cần phải mở rộng hơn rất nhiều. Vốn vẫn rất quan trọng, nhưng không còn là yếu tố duy nhất quyết định sức bật của nền kinh tế. Trong giai đoạn phát triển mới, nguồn lực còn là công nghệ, dữ liệu, chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động, năng lực quản trị doanh nghiệp và khả năng đổi mới sáng tạo… Đây mới là những yếu tố quyết định cả chất lượng lẫn tốc độ tăng trưởng trong ngắn hạn cũng như dài hạn.

Nhiều năm qua, ngành ngân hàng đã luôn đồng hành cùng mọi giai đoạn phát triển của đất nước. Tuy nhiên, khi nền kinh tế bước sang giai đoạn mới với yêu cầu tăng trưởng cao hơn, xanh hơn, thông minh hơn và bền vững hơn, thì bản thân cấu trúc nguồn lực chắc chắn phải thay đổi, kể cả tư duy và cơ chế vận hành trong khai thác và sử dụng.

Một nền kinh tế hiện đại không thể mãi chỉ dựa chủ yếu vào vốn tín dụng để tăng trưởng, cũng như không thể chỉ dựa vào nguồn vốn ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển. Thúc đẩy tăng trưởng bằng tín dụng ngân hàng có thể tạo tốc độ nhanh hơn tạm thời trong ngắn hạn, nhưng không thể thay thế năng suất lao động bền vững trong dài hạn cũng như tiềm ẩn những hệ lụy nguy hiểm nếu nguồn vốn tín dụng không được sử dụng hiệu quả.

Vấn đề của Việt Nam hiện nay không còn chỉ là thiếu vốn, mà là làm thế nào để dòng vốn tạo ra năng suất mới, hiệu quả cao cho nền kinh tế. Điều quan trọng không chỉ là lượng vốn đưa ra thị trường, mà là dòng vốn đó có đi vào các lĩnh vực thực chất để tạo ra giá trị gia tăng và hình thành các động lực tăng trưởng mới hay không.

Cần nhấn mạnh rằng, hiệu quả của dòng vốn không thể chỉ đo bằng quy mô, mà còn phải được xem xét ở góc độ cơ cấu, tính lan tỏa và hơn hết là khả năng hấp thụ của nền kinh tế phù hợp với định hướng phát triển trong dài hạn để tạo ra giá trị thặng dư lớn hơn, nâng cao thu nhập và mức sống của người dân.

Trong bối cảnh hiện nay, hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ lực dẫn vốn cho nền kinh tế, nhưng không thể “gánh” toàn bộ nhu cầu vốn của quá trình phát triển thông qua yêu cầu đầu tư lớn và với tốc độ nhanh. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng bền vững phải dựa nhiều hơn vào nội lực và sự đa dạng hóa các nguồn vốn trong nền kinh tế. Điều đó cũng có nghĩa chúng ta phải khai thác mạnh mẽ và khẩn trương hơn mọi nguồn lực hiện có trong nền kinh tế, trước hết là các nguồn vốn bằng tiền trên thị trường tiền tệ, thị trường tài chính. Nói cách khác, nguồn vốn tín dụng vẫn rất được coi trọng, nhưng vốn trên thị trường tài chính phải được đặt ra tầm quan trọng cao hơn, tương xứng với vai trò, vị thế trong đầu tư và phát triển dài hạn.

Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế có tỷ lệ tín dụng/GDP rất cao trong khu vực, vậy đâu là giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng?

Có thể nói, trong nhiều năm qua, mặc dù mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào tín dụng ngân hàng nhưng đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định. Trong điều kiện thị trường vốn còn phát triển chưa tương xứng, hệ thống ngân hàng đã thực hiện rất tốt vai trò huyết mạch của nền kinh tế. Tuy nhiên, khi tỷ lệ tín dụng/GDP tăng cao, đến cuối năm 2025 đã đạt 145%, là mức cao nhất trong số các quốc gia có thu nhập trung bình thấp và cũng là mức cao nhất trong các quốc gia thuộc ASEAN, thì áp lực đối với hệ thống ngân hàng cũng như những quan ngại về an toàn của thị trường tài chính nói chung và thị trường tiền tệ nói riêng là không hề nhỏ.

Đó là áp lực thanh khoản, rủi ro kỳ hạn tín dụng, chất lượng và mức độ an toàn của các khoản vay, năng lực quản trị rủi ro không đáp ứng mức độ gia tăng tín dụng, tính minh bạch thị trường tiền tệ bị hạn chế. Nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế cũng đã chỉ ra rằng, khi quy mô tín dụng/GDP vượt quá một ngưỡng tối ưu thì những áp lực nêu trên sẽ được chuyển hóa thành gánh nặng tài chính quốc gia và sẽ có tác động tiêu cực trở lại tới ổn định vĩ mô và tăng trưởng kinh tế.

Đặc điểm của hệ thống ngân hàng là huy động vốn chủ yếu mang tính ngắn hạn, trong khi nền kinh tế lại cần lượng vốn trung và dài hạn rất lớn cho các nhu cầu đầu tư hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh hay các dự án phát triển quy mô lớn. Nếu toàn bộ gánh nặng vốn dài hạn đều dồn lên hệ thống ngân hàng thì rủi ro kỳ hạn sẽ tăng lên đáng kể, khi đó tính an toàn của các ngân hàng thương mại cũng sẽ bị ảnh hưởng. Vậy thì mục tiêu tăng trưởng cao nhưng phải đảm bảo bền vững đã đặt ra cho chúng ta phải nhìn nhận thật đầy đủ những vấn đề có tính rủi ro trên đây.

Một cấu trúc tài chính lành mạnh phải là cấu trúc có sự phân bổ cân bằng hơn giữa tín dụng ngân hàng và các kênh vốn khác, nhất là các nguồn vốn phù hợp cho đầu tư trung và dài hạn. Điều đó đòi hỏi chúng ta khẩn trương đổi mới và hoàn thiện hơn nữa các chính sách, giải pháp, công cụ nhằm phát triển mạnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, bảo hiểm, quỹ hưu trí… để đảm trách được vai trò và khả năng cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Bên cạnh yêu cầu tập trung khai thác mọi nguồn vốn trong nền kinh tế thì vấn đề sử dụng hiệu quả các nguồn vốn cũng không kém phần quan trọng. Ngân hàng và các định chế tài chính không chỉ phân bổ vốn, mà đang tham gia phân bổ cơ hội phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, chất lượng dòng vốn sẽ ngày càng quan trọng không kém quy mô dòng vốn. Đây cũng là giai đoạn hệ thống tài chính Việt Nam cần dịch chuyển mạnh hơn từ tư duy “mở rộng vốn” sang tư duy “nâng chất lượng vốn”. Nếu dòng vốn không đi vào khu vực tạo ra năng suất mới, không nâng cao được năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, không tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội, thì áp lực tài chính trong dài hạn vẫn luôn là bài toán chưa có lời giải cuối.

Ông có thể nói rõ hơn, cụ thể hơn lời giải nào cho bài toán nguồn vốn quan trọng đầu tư cho nền kinh tế trong giai đoạn tới?

Đây là bài toán rất lớn của nền kinh tế hiện nay. Như trên tôi đã nói, nhu cầu vốn cho tăng trưởng còn rất lớn, đặc biệt là nhu cầu vốn trung và dài hạn cho hạ tầng, cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các dự án phát triển quy mô lớn. Nhưng tín dụng ngân hàng không thể tiếp tục tăng trưởng quá nóng trong thời gian dài. Khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức rất cao thì phải nhìn nhận rằng hệ thống ngân hàng không thể tiếp tục là kênh duy nhất cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nếu quá phụ thuộc vào vốn ngân hàng cho các nhu cầu trung và dài hạn sẽ dẫn tới rủi ro và các hệ lụy cho nền tài chính quốc gia, và lớn hơn nữa là nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô. Ngân hàng vẫn là nguồn vốn rất quan trọng của nền kinh tế, nhưng sẽ không đủ để đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn cho tăng trưởng trong dài hạn.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng, vấn đề hiện nay không còn là mở rộng tín dụng, mà là phải hình thành được một cấu trúc nguồn lực cân bằng và bền vững hơn cho nền kinh tế. Ngoài tín dụng ngân hàng, phải phát triển mạnh hơn thị trường vốn, thị trường tài chính để giải quyết bài toán cho nhu cầu vốn đầu tư trung dài hạn. Đồng thời, cũng phải giải phóng được các nguồn lực đang tồn đọng khá lớn hiện nay trong nền kinh tế dưới dạng tài sản để chuyển hóa thành vốn bằng tiền để tiếp tục tái tạo cho đầu tư phát triển.

Cụ thể, đó là các dự án bất động sản lớn đang nghẽn pháp lý hoặc chờ xét xử, các khoản nợ chưa được xử lý, dòng vốn đầu tư công chậm giải ngân, hay tài nguyên chưa khai thác hết tại các địa phương... Đây đều là những nguồn lực khổng lồ cần được khơi thông.

Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán, tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng, vấn đề hiện nay không chỉ là quy mô phát triển, mà phải thực hiện cải cách mạnh mẽ để thị trường vốn vận hành minh bạch, sôi động và bền vững hơn. Sau những biến động vừa qua, điều quan trọng nhất là phải khôi phục niềm tin thị trường và niềm tin của nhà đầu tư.

Muốn vậy, doanh nghiệp phát hành phải minh bạch hơn trong công bố thông tin, phát hành phù hợp với năng lực tài chính và khả năng trả nợ khi trái phiếu đến hạn. Quyền lợi của nhà đầu tư cũng phải được bảo đảm trên nền tảng pháp lý rõ ràng hơn. Nếu không tạo dựng lại được niềm tin thì rất khó để thị trường vốn phát triển mạnh và bền vững được.

Còn đối với các địa phương cũng vậy, sau khi sáp nhập, hợp nhất các tỉnh, thành phố, sắp xếp lại các xã, phường, cũng đã tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển và dư địa huy động nguồn lực tại chỗ. Nhiều cơ hội và nguồn lực sẽ xuất hiện, nhưng điều quan trọng là các địa phương phải được phân cấp, phân quyền đầy đủ và kịp thời để chủ động ra quyết định và nắm bắt thời cơ. Vì vậy, cần sớm rà soát và hoàn thiện cơ chế chính sách để các địa phương chủ động hơn trong huy động vốn cho đầu tư phát triển, không thụ động chờ đợi Trung ương cấp vốn. Ví dụ như chủ động trong việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương hoặc bảo lãnh vay vốn trong và ngoài nước cho các chương trình, dự án trọng điểm bằng nguồn ngân sách của địa phương.

Trở lại vai trò vốn tín dụng và hệ thống ngân hàng trong việc đồng hành cùng tăng trưởng của nền kinh tế, theo quan điểm của ông trên cương vị Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng sẽ là thế nào?

Tôi hiểu rằng, dù phải phát triển mạnh hơn các kênh dẫn vốn khác như trên chúng ta đã đề cập, nhưng trong giai đoạn hiện nay, hệ thống ngân hàng vẫn giữ vai trò rất quan trọng đối với nhiệm vụ cung ứng vốn cho nền kinh tế. Không thể nói rằng vì tỷ lệ tín dụng/GDP đã cao mà chúng ta dừng lại việc cung ứng và tăng trưởng vốn tín dụng.

Nền kinh tế hiện nay, đặc biệt với quyết tâm duy trì tăng trưởng GDP trên 10% trong cả nhiệm kỳ, đang đòi hỏi nguồn vốn đầu tư ngày càng lớn và tập trung hơn. Tín dụng vẫn phải tiếp tục lưu thông, thậm chí mạnh mẽ hơn để tiếp tục hỗ trợ tích cực cho sản xuất kinh doanh và tham gia vào các dự án đầu tư lớn trong các lĩnh vực tạo động lực cho tăng trưởng.

Điều đó đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường huy động, khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, tiếp tục cho vay các lĩnh vực, các đối tượng, doanh nghiệp, dự án có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Trong điều kiện huy động nguồn vốn có những khó khăn nhất định, thì sự hợp tác, chia sẻ vốn của các ngân hàng thương mại thông qua thị trường liên ngân hàng rất cần sự linh hoạt và trách nhiệm chung của mỗi ngân hàng.

Với vai trò của Hiệp hội Ngân hàng, chúng tôi luôn theo sát vận động để thúc đẩy tính liên kết, chia sẻ vốn giữa các hội viên, cùng toàn ngành giải quyết bài toán nguồn lực đầu tư cho nền kinh tế đang rất cấp bách hiện nay.

Nhuệ Mẫn

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục