Từ đầu năm đến nay, tỷ giá USD/VND chính thức duy trì sự ổn định tương đối dù môi trường bên ngoài còn nhiều biến động. Theo ông, đâu là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự ổn định này?
Tính đến ngày 16/6/2026, tỷ giá bán USD/VND tại Vietcombank chỉ tăng 0,2% so với cuối năm 2025, thấp hơn nhiều so với mức tăng 1,2% của chỉ số DXY, thước đo sức mạnh USD. Đáng chú ý là, sự ổn định này đạt được ngay cả khi cán cân thương mại hàng hóa đảo chiều sang thâm hụt liên tục từ tháng 12/2025 đến tháng 5/2026.
Yếu tố quan trọng nhất tạo nên sự ổn định của VND đến từ sự suy giảm rõ rệt của tình trạng găm giữ ngoại tệ - nguyên nhân cốt lõi khiến tỷ giá liên tục chịu áp lực trong giai đoạn 2022 - 2025, bất chấp Việt Nam liên tục xuất siêu hàng hóa ở mức cao. Điều này thể hiện rõ ở khoản mục “lỗi và sai sót” trong cán cân thanh toán - phản ánh phần ngoại tệ “biến mất” khỏi hệ thống chính thức, thường gắn với hành vi găm giữ hoặc chuyển ngoại tệ trái phép.
| |
Tình trạng găm giữ ngoại tệ - nguyên nhân cốt lõi tạo áp lên tỷ giá giai đoạn trước - đã suy giảm rõ rệt |
Lũy kế giai đoạn 2022 - 2025, khoản mục “lỗi và sai sót” này lên tới 103 tỷ USD, lớn hơn cả 86 tỷ USD thặng dư thương mại hàng hóa tích lũy cùng giai đoạn. Tình trạng này bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính. Một là, nhu cầu vàng của người dân cao, cộng với chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới lớn, làm gia tăng hoạt động nhập lậu vàng, từ đó gây chảy máu ngoại tệ. Hai là, việc lãi suất USD thường xuyên cao hơn lãi suất VND trong những năm gần đây, sau khi Fed tăng lãi suất rất mạnh từ tháng 3/2022 và mãi đến tháng 9/2024 mới bắt đầu cắt giảm, nhưng tốc độ giảm lãi suất của Fed lại chậm do lạm phát dai dẳng, khiến cho lãi suất USD vẫn neo cao so với quá khứ. Trong khi đó, lãi suất VND giảm mạnh từ năm 2023 và duy trì vùng thấp suốt năm 2024 đến phần lớn năm 2025, từ đó kích thích hành vi găm giữ USD để hưởng chênh lệch lãi suất.
Tuy nhiên, từ đầu năm 2026, cả hai nguyên nhân gây áp lực tỷ giá này đã suy yếu rõ rệt. Đầu tiên là việc Chính phủ quyết liệt triển khai nhiều biện pháp kiểm soát hoạt động mua bán vàng không rõ nguồn gốc. Đồng thời, giá vàng thế giới biến động rất mạnh trong 5 tháng đầu năm - có thời điểm lên gần 5.500 USD/ounce rồi lao dốc về gần 4.000 USD/ounce khi xung đột tại Trung Đông bùng phát, biến vàng từ kênh “trú ẩn an toàn” thành tài sản rủi ro cao, qua đó, hạ nhiệt nhu cầu tích trữ kim loại này. Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất huy động trong nước đã tăng đáng kể từ quý IV/2025, khiến tiền gửi ngân hàng trở nên hấp dẫn hơn khi so sánh với các kênh đầu tư thay thế như vàng. Lãi suất VND cao hơn cũng làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ USD, từ đó giúp giảm nhu cầu găm giữ đồng tiền này.
Ngoài yếu tố tâm lý nắm giữ ngoại tệ suy giảm, những nguồn cung ngoại tệ nào đang đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện cán cân thanh toán và hỗ trợ tỷ giá thời gian qua?
Thực tế cho thấy, có nhiều yếu tố hỗ trợ cân bằng cung - cầu ngoại tệ đã củng cố thêm sự ổn định tỷ giá, trong đó điểm sáng nổi bật đến từ hoạt động du lịch. Năm 2025, Việt Nam đón 21,2 triệu lượt khách quốc tế, mang về 15,2 tỷ USD doanh thu ngoại tệ, tăng hơn 24% so với năm 2024. Sang năm 2026, lượng khách tiếp tục tăng trưởng tích cực nhờ lợi thế điểm đến an toàn và thân thiện của nước ta, từ đó, mang về 4,9 tỷ USD trong quý I, tăng gần 17% so với cùng kỳ. Với đà này, cả năm 2026, nhiều khả năng doanh thu từ khách quốc tế sẽ đạt từ 17 - 18 tỷ USD.
Một yếu tố hỗ trợ khác là trạng thái vào ròng của dòng vốn đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn 2022 - 2025, dù giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng trưởng ổn định, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) lại diễn biến trái chiều, ghi nhận chuỗi rút ròng liên tục từ quý II/2023 đến quý IV/2025 với tổng giá trị gần 12 tỷ USD. Song song, dòng tiền ra trong khoản mục Thu nhập sơ cấp - phần lớn phản ánh lượng lợi nhuận chuyển về nước của khối FDI - cũng tăng đáng kể, đạt bình quân 5,8 tỷ USD/quý trong giai đoạn quý I/2022 đến quý I/2025, so với mức quanh 4 tỷ USD/quý trước đó. Cộng hưởng hai chiều này khiến cho dòng vốn đầu tư nước ngoài ở trạng thái rút ròng lớn, lên đến 7,2 tỷ USD trong năm 2023 và 6,7 tỷ USD trong năm 2024.
Tuy vậy, xu hướng trên có tín hiệu đảo chiều từ quý II/2025, khi dòng tiền ra trong khoản mục Thu nhập sơ cấp đã giảm về mức bình quân quanh 4 tỷ USD/quý. Kết hợp với đà giải ngân FDI duy trì tích cực, mức rút ròng của nhà đầu tư nước ngoài đã thu hẹp còn 2,2 tỷ USD trong năm 2025 - mức thấp nhất kể từ sau đại dịch Covid-19. Đáng chú ý hơn, riêng ba quý cuối năm 2025, dòng vốn ngoại đã chuyển sang vào ròng 2 tỷ USD. Chuyển biến này chủ yếu nhờ Việt Nam củng cố được vị thế ưu tiên trong chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng của các tập đoàn sản xuất, dựa trên nền tảng kinh tế - xã hội ổn định và quan hệ địa chính trị cân bằng. Lợi thế đó vừa giúp thu hút thêm dự án mới, vừa tạo động lực để các doanh nghiệp FDI hiện hữu giữ lại lợi nhuận tái đầu tư mở rộng sản xuất tại Việt Nam, thay vì chuyển về nước. Niềm tin ấy thể hiện rất rõ qua số liệu 5 tháng đầu năm 2026, khi vốn đăng ký từ các dự án mới đạt mức kỷ lục 14,8 tỷ USD, tăng hơn gấp đôi so với cùng kỳ năm 2025.
Nhìn về nửa cuối năm 2026, theo ông, những yếu tố nào có thể tiếp tục hỗ trợ sự ổn định của VND và đâu là những rủi ro mà thị trường cần theo dõi?
Yếu tố quan trọng cuối cùng cần đề cập là hoạt động vay - trả nợ nước ngoài của khối tư nhân.
Trước khi Fed tăng lãi suất, khu vực này tích cực vay nợ quốc tế để tận dụng môi trường lãi suất USD thấp và từ quý III/2023, khi Ngân hàng Trung ương Mỹ bước vào lộ trình tăng lãi suất thì đã đảo chiều sang trả nợ ròng, với mức 5,1 tỷ USD năm 2024 và 4,3 tỷ USD năm 2025 - so với mức vay ròng bình quân 3,3 tỷ USD/năm giai đoạn 2019 - 2022. Sang quý IV/2025, khi Fed tiếp tục giảm lãi suất qua ba kỳ họp tháng 9, 10 và 12/2025, chi phí vay USD hạ nhiệt đã khuyến khích khối tư nhân quay lại thị trường vốn nợ quốc tế - thể hiện ở mức trả nợ ròng quý IV/2025 giảm chỉ còn 268 triệu USD, so với bình quân hơn 1 tỷ USD/quý trước đó. Xu hướng này khả năng vẫn tiếp diễn trong các tháng đầu năm 2026 và từ đó giúp giảm áp lực lên cầu ngoại tệ.
Tổng kết lại, sự ổn định của tỷ giá trong thời gian gần đây là kết quả của nhiều yếu tố: từ hành động hiệu quả của Chính phủ làm suy yếu hành vi găm giữ ngoại tệ, cho đến đà tăng trưởng ổn định của doanh thu từ khách quốc tế, cũng như các chuyển dịch tích cực của dòng vốn FDI và dòng vốn nợ tư nhân. Sự cộng hưởng này đã giúp cải thiện đáng kể cán cân thanh toán quốc tế, từ đó tạo nền tảng hỗ trợ VND.
Ở góc độ đầu tư, thị trường nên quan sát biến số nào nhiều hơn trong các biến số tỷ giá, lãi suất, dòng vốn quốc tế? Đâu sẽ là tín hiệu cho thấy áp lực tỷ giá đã thực sự hạ nhiệt?
Việc Fed duy trì lãi suất cao lâu hơn do lạm phát dai dẳng không còn là câu chuyện mới, nên thị trường phần lớn đã phản ánh kỳ vọng theo hướng này. Bản thân kịch bản đó, vì vậy, khó tạo ra cú sốc lớn lên tỷ giá. Mặt khác, quan ngại về tình trạng thâm hụt ngân sách của Chính phủ Mỹ và tính độc lập của Fed bị xói mòn nhiều khả năng sẽ tiếp tục thúc đẩy xu hướng giảm dần sự phụ thuộc vào USD (phi đô la hóa) trên toàn cầu, qua đó phần nào làm suy yếu vị thế đồng bạc xanh và giảm bớt sức ép lên VND.
Rủi ro lớn nhất cho tỷ giá hiện nay không nằm ở việc điều hành lãi suất của Fed, mà ở yếu tố địa chính trị. Nếu xung đột Trung Đông tái leo thang, hoặc giao tranh bùng phát ở các điểm nóng khác, nhu cầu trú ẩn vào USD sẽ tăng trở lại, từ đó kích hoạt dòng vốn rút khỏi các thị trường mới nổi và gây sức ép lớn lên tỷ giá. Dù vậy, xác suất xảy ra kịch bản này không cao, khi tình hình Trung Đông gần đây đã có chuyển biến tích cực và các bên đều thể hiện ý chí chấm dứt xung đột.
Nhìn vào bức tranh kinh tế trong nước nửa cuối năm 2026 và xa hơn, thách thức lớn nhất là làm sao đạt tăng trưởng cao mà vẫn giữ vững cân đối vĩ mô. Trong giai đoạn 2026 - 2030, đầu tư sẽ đóng vai trò ngày càng then chốt đối với nền kinh tế. Ước tính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021 - 2025. Một trong những điều kiện cần để dòng vốn đầu tư bứt phá là mặt bằng lãi suất phải ở mức hợp lý, đủ thấp để doanh nghiệp có động lực triển khai các dự án phát triển. Đây cũng chính là điểm phát sinh nghịch lý: nếu bơm thanh khoản để kéo lãi suất VND xuống thấp, trong khi lãi suất USD vẫn neo cao, nền kinh tế có nguy cơ quay lại vòng xoáy chênh lệch lãi suất - găm giữ ngoại tệ và đe dọa sự ổn định của tỷ giá.
Lối ra cho thế lưỡng nan này là huy động hiệu quả nguồn vốn quốc tế cho đầu tư phát triển và rộng hơn là gia tăng nguồn cung ngoại tệ cho nền kinh tế. Nguồn cung ngoại tệ dồi dào sẽ cùng lúc đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư và cho phép duy trì lãi suất hợp lý mà không tạo sức ép lên tỷ giá, qua đó, củng cố nền tảng vĩ mô và giúp duy trì tăng trưởng cao một cách bền vững.