Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường Nguyễn Thanh Hải phát biểu đề dẫn - Ảnh: HL .
Trong giai đoạn phát triển mới, cần có nhận thức và cách tiếp cận mới đối với công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo; coi đây không chỉ là các ngành sản xuất mà còn là nền tảng của năng lực công nghệ quốc gia, năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thông điệp trên được nhấn mạnh trong đề dẫn hội thảo “Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới”, do Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội tổ chức sáng 15/6.
Nhiều dự án chiến lược quốc gia đang đặt ra yêu cầu hoàn toàn mới
Phát biểu đề dẫn, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường Nguyễn Thanh Hải nêu rõ, đất nước đang bước vào giai đoạn mới, đòi hỏi rất cao. Nhiều chương trình dự án chiến lược quốc gia đang đặt ra yêu cầu hoàn toàn mới đối với công nghiệp vật liệu, công nghiệp cơ khí chế tạo.
Lấy ví dụ dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, bà Hải nhấn mạnh đây không chỉ là dự án giao thông có quy mô lớn nhất trong lịch sử nước ta mà còn là cơ hội lớn để nâng cấp năng lực công nghiệp quốc gia. Đòi hỏi thép ray chất lượng cao, thép cầu đặc chủng, bê tông tính năng cao, vật liệu giảm rung, giảm chấn, hệ thống điện khí hóa, tín hiệu điều khiển tự động và nhiều loại thiết bị cơ khí chính xác.
Câu hỏi đặt ra là Việt Nam có thể tham gia ở mức độ nào vào chuỗi giá trị của các dự án này, có thể nội địa hóa những công đoạn nào và cần chuẩn bị những gì để từng bước làm chủ công nghệ, Chủ nhiệm Hải nêu vấn đề.
Vẫn theo Chủ nhiệm Hải thì chương trình phát triển điện hạt nhân yêu cầu đặt ra còn cao hơn. Theo đó, điện hạt nhân đòi hỏi các tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt về vật liệu, thiết bị, công nghệ. Đây là lĩnh vực cần các loại thép đặc chủng, hợp kim chịu nhiệt, hợp kim Rhodium, vật liệu chống bức xạ, bê tông cảm xạ và các thiết bị cơ khí chính xác có độ an toàn rất cao.
Theo bà Hải, kinh nghiệm quốc tế cho thấy chương trình điện hạt nhân thường tạo ra động lực phát triển mạnh cho các ngành luyện kim, cơ khí chính xác, tự động hóa và nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao khác của nước sở tại.
Với công nghiệp bán dẫn, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Song bán dẫn không chỉ là câu chuyện thiết kế chip, thu hút đầu tư nước ngoài mà nền tảng sâu xa là năng lực làm chủ vật liệu, thiết bị công nghệ cao, vật liệu bán dẫn thế hệ mới, hóa chất điện tử siêu tinh khiết, vật liệu đóng gói chip, vật liệu tản nhiệt hiệu năng cao...
"Đây là những lĩnh vực Việt Nam cần có chiến lược đầu tư dài hạn", bà Hải nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, bà Hải đề cập, trong bối cảnh cạnh tranh công nghiệp toàn cầu ngày càng gay gắt, vấn đề vật liệu chiến lược đang được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm.
Các vật liệu phục vụ cho AI, robot, năng lượng mới, quốc phòng an ninh, hàng không vũ trụ, công nghệ lượng tử, công nghệ số đang ngày càng đóng vai trò quyết định với năng lực cạnh tranh quốc gia.
"Với Việt Nam, câu hỏi không chỉ là khai thác tài nguyên mà quan trọng hơn, làm thế nào để từng bước làm chủ công nghệ chế biến sâu, phát triển công nghiệp vật liệu chiến lược có giá trị gia tăng cao và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu", bà Hải nói.
Bà Hải cũng chỉ rõ một số điểm nghẽn lớn trong lĩnh vực này như thiếu chiến lược quốc gia tổng thể về công nghiệp vật liệu, hệ thống thể chế, chính sách còn phân tán, thiếu đồng bộ.
Đặc biệt thiếu các doanh nghiệp dẫn dắt đầu đàn, thiếu phòng thí nghiệm trọng điểm, nguồn nhân lực chất cao chưa đáp ứng như mong muốn và thu hút, đãi ngộ còn hạn chế...
Tại báo cáo đề dẫn, Thường trực Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường cho rằng, trong giai đoạn tới cần tập trung phát triển ba nhóm vật liệu gồm: vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược và vật liệu tương lai; đồng thời ưu tiên các sản phẩm cơ khí công nghệ cao phục vụ bán dẫn, AI, robot, năng lượng mới, điện hạt nhân, quốc phòng, đường sắt tốc độ cao và các ngành công nghệ chiến lược khác.
Cùng với đó,cần hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí; khẩn trương xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Chiến lược phát triển công nghiệp cơ khí, chế tạo trong giai đoạn mới; đồng thời rà soát, sửa đổi các quy định về đầu tư, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn - quy chuẩn, khoáng sản, công nghiệp hỗ trợ, thuế, tín dụng và các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; nghiên cứu xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm và Luật Quản lý, phát triển vật liệu xây dựng.
Thường trực Ủy ban cũng nêu rõ,cần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và đội ngũ chuyên gia; đồng thời gắn phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí với các chương trình, dự án chiến lược quốc gia như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, điện hạt nhân, công nghiệp bán dẫn, công nghiệp quốc phòng, trung tâm dữ liệu quốc gia, hạ tầng số quốc gia, năng lượng tái tạo và các ngành công nghệ chiến lược khác.
![]() |
Ông Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) phát biểu: Ảnh HL |
Lựa chọn doanh nghiệp nòng cốt để giao nhiệm vụ chiến lược
Phát biểu tại hội thảo, khẳng định việc làm chủ công nghiệp vật liệu là điều kiện tiên quyết để Việt Nam trở thành quốc gia hùng cường vào năm 2045, PGS-TS Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) đề xuất một số nhóm giải pháp lớn.
“Nhà nước cần quy định yêu cầu bắt buộc về tỷ lệ nội địa hóa, chuyển giao công nghệ và sử dụng nhà cung ứng trong nước trong hồ sơ mời thầu các dự án lớn (đường sắt, năng lượng, quốc phòng). Thay vì chỉ hỗ trợ mua thiết bị, Nhà nước nên hỗ trợ các chương trình quốc gia làm chủ thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình chế tạo cho từng nhóm sản phẩm cụ thể”, vị chuyên gia VAMI nêu quan điểm.
Bên cạnh đó, ông Sáng đề xuất lựa chọn khoảng 15–20 doanh nghiệp nòng cốt đến năm 2045 để giao nhiệm vụ chiến lược trong các lĩnh vực then chốt như luyện kim, vật liệu chiến lược, thiết bị năng lượng; xây dựng gói tín dụng dài hạn với lãi suất phù hợp; ưu đãi thuế cho R&D, mua công nghệ; và áp dụng cơ chế khấu hao nhanh cho thiết bị sản xuất hiện đại. Ông cũng đề xuất riêng một đề án với cơ chế đặc thù cho công nghiệp đường sắt để tự chủ trong đầu tư và bảo trì, tránh việc thị trường này rơi hoàn toàn vào tay nhà thầu nước ngoài.
Đặt vấn đề kiến tạo thị trường thông qua đầu tư công, ông Phan Đăng Phong (Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí – NARIME) phân tích, tổng dung lượng thị trường cơ khí Việt Nam đến năm 2045 ước đạt 7.821 tỷ USD. “Đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về cơ chế đặc thù, cho phép chỉ định thầu có điều kiện cho các liên danh trong nước thực hiện các dự án siêu trọng điểm (đường sắt tốc độ cao, điện gió ngoài khơi) để "mua năng lực" thay vì chỉ "mua thiết bị", ông Phong nêu quan điểm.
Đại diện Tập đoàn Hòa Phát, ông Phan Bội Châu, (Trưởng Ban Đường sắt) kiến nghị Chính phủ sớm ban hành tiêu chuẩn quốc gia đồng bộ cho đường sắt tốc độ cao để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dây chuyền sản xuất thép ray, tránh lãng phí nguồn lực do tiêu chuẩn phân tán.
