Tín dụng đang được ưu tiên vào các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng cho nền kinh tế
Dòng vốn sẽ phân bổ chọn lọc hơn
“Ngân hàng Nhà nước có đang chấp nhận đánh đổi rủi ro để lấy tăng trưởng hay không?” là một trong những câu hỏi được đặt ra tại Họp báo Thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026. Câu hỏi không mới, nhưng phản ánh nỗi băn khoăn của thị trường trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh, hàng loạt cơ chế đặc thù được ban hành để hỗ trợ các dự án lớn, trong khi thanh khoản hệ thống bắt đầu chịu nhiều sức ép hơn.
Ngân hàng Nhà nước không khẳng định sẽ nới tín dụng hay mở rộng thêm hạn mức tăng trưởng, mà dành phần lớn thời gian để giải thích dòng vốn đang được định hướng như thế nào.
Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước cho biết, tín dụng vẫn là “mạch máu” của nền kinh tế, nhưng nguồn vốn phải được ưu tiên cho những lĩnh vực có khả năng tạo sức lan tỏa lớn. Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh cơ chế tín dụng đối với 18 dự án của 3 tập đoàn kinh tế tư nhân, đồng thời áp dụng cơ chế tương tự đối với các chương trình phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê. Đó là không tính dư nợ của các dự án này vào hạn mức tăng trưởng tín dụng.
Theo ông Quang, đây đều là các công trình trọng điểm quốc gia, có khả năng tạo ra cả tổng cung lẫn tổng cầu cho nền kinh tế, vì vậy, cần có cơ chế đủ linh hoạt để doanh nghiệp yên tâm triển khai. Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước đang nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn đối với một số công trình trọng điểm, đặc biệt là nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê, nhằm tạo thêm nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Nếu chỉ nhìn dưới góc độ kỹ thuật, đây là một thay đổi về cơ chế tín dụng. Nhưng nhìn ở góc độ rộng hơn, nó phản ánh sự dịch chuyển trong tư duy điều hành. Nhiều năm trước, câu chuyện tín dụng thường xoay quanh việc tín dụng tăng bao nhiêu phần trăm. Còn hiện nay, điều quan trọng hơn là dòng vốn được dẫn vào đâu và tạo ra hiệu quả gì.
Sự thay đổi này diễn ra trong bối cảnh trạng thái của hệ thống ngân hàng cũng đã khác. Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà, đến ngày 26/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã đạt hơn 19,97 triệu tỷ đồng, tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là tốc độ tăng khá tích cực nếu đặt trong bối cảnh nền kinh tế vẫn cần lượng vốn rất lớn cho đầu tư hạ tầng, sản xuất và tiêu dùng.
Tuy nhiên, phía sau con số tăng trưởng đó là một thực tế khác: huy động vốn đang tăng chậm hơn cho vay. Đây cũng là lần hiếm hoi lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước thẳng thắn thừa nhận áp lực này tại một cuộc họp báo. Theo Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà, để bảo đảm thanh khoản cho toàn hệ thống, Ngân hàng Nhà nước đã phải sử dụng đồng thời nhiều công cụ trên thị trường mở, qua đó duy trì mặt bằng lãi suất liên ngân hàng ở mức hợp lý và bảo đảm các tổ chức tín dụng có đủ nguồn vốn phục vụ nền kinh tế.
Nhiều tổ chức phân tích đều cho rằng nửa cuối năm 2026 sẽ không phải là giai đoạn mở rộng tín dụng bằng mọi giá. SSI Research nhận định, động lực tăng trưởng của nền kinh tế đang chuyển dần từ tiêu dùng và xuất khẩu sang đầu tư công, hạ tầng và mở rộng năng lực sản xuất. Điều này đồng nghĩa với việc tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò trung tâm, nhưng dòng vốn sẽ phải được phân bổ chọn lọc hơn để tạo hiệu quả lan tỏa lớn hơn đối với nền kinh tế. Trong khi đó, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam cảnh báo, khoảng cách giữa tốc độ tăng tín dụng và huy động vốn tiếp tục nới rộng sẽ khiến áp lực thanh khoản mang tính cấu trúc rõ nét hơn trong thời gian tới.
![]() |
Chu kỳ tăng trưởng mới sẽ tạo ra sự phân hóa rõ nét hơn trong ngành ngân hàng |
Ngân hàng tập trung cải thiện hiệu quả hoạt động
Thực tế, áp lực thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng không chỉ đến từ việc tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Khi nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng, bất động sản công nghiệp, chuyển đổi số và sản xuất tiếp tục mở rộng, bài toán của các ngân hàng cũng trở nên phức tạp hơn nhiều. Mỗi đồng vốn huy động được không chỉ cần được giải ngân nhanh, mà còn phải bảo đảm hiệu quả sử dụng và khả năng thu hồi trong dài hạn.
Có lẽ vì vậy mà tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm, Chủ tịch Hội đồng thành viên Agribank Tô Huy Vũ không dành nhiều thời gian nói về tốc độ tăng trưởng tín dụng hay lợi nhuận. Thay vào đó, ông nhấn mạnh, năm 2026 là năm bản lề của Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030 và đặt ra một câu hỏi lớn hơn: Động lực nào sẽ tạo nên tăng trưởng của Agribank trong chu kỳ phát triển mới?
Thông điệp này phản ánh khá rõ định hướng của ngân hàng có quy mô lớn nhất hệ thống. Đến hết tháng 6/2026, Agribank tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu nhiều chỉ tiêu hoạt động với tổng nguồn vốn vượt 2,3 triệu tỷ đồng, huy động vốn lần đầu vượt 2 triệu tỷ đồng, dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng; trong đó, riêng dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 1,32 triệu tỷ đồng, chiếm gần 65% tổng dư nợ.
Tuy nhiên, thay vì coi quy mô là lợi thế duy nhất, Agribank đang chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng nền khách hàng, mở rộng tệp khách hàng trẻ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp FDI, phát triển CASA, xây dựng hệ sinh thái số, đẩy mạnh AI và các nền tảng tín dụng số như SmartForm hay Online Lending, đồng thời tiếp tục cải thiện quản trị theo chuẩn quốc tế. Đó không còn là câu chuyện tăng trưởng bằng quy mô, mà là gia tăng hiệu quả trên chính quy mô đã có.
Những gì Agribank đang theo đuổi cũng chính là xu hướng được các tổ chức phân tích độc lập dự báo. Theo Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, sau giai đoạn tín dụng tăng mạnh liên tục, khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn đang ngày càng rõ nét hơn. CASA của nhiều ngân hàng suy giảm, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn tiếp tục gia tăng khiến chi phí vốn khó có thể quay về mức thấp như giai đoạn trước. Trong bối cảnh đó, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về những ngân hàng có nền tảng huy động ổn định, CASA cao, bộ đệm vốn tốt và chất lượng tài sản bền vững, thay vì chỉ là những ngân hàng mở rộng tín dụng nhanh nhất.
SSI Research cũng đưa ra góc nhìn tương tự, khi cho rằng, chu kỳ tăng trưởng mới sẽ tạo ra sự phân hóa rõ nét hơn trong ngành ngân hàng. Động lực tăng trưởng của nền kinh tế đang chuyển mạnh sang đầu tư hạ tầng và sản xuất, đồng nghĩa nhu cầu vốn sẽ còn rất lớn. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng có khả năng tận dụng cơ hội này như nhau. Những tổ chức có nguồn vốn ổn định, năng lực quản trị rủi ro tốt, khả năng duy trì biên lãi ròng và chất lượng tài sản sẽ có nhiều dư địa tăng trưởng hơn trong những năm tới.
Đó cũng là lý do trong các cuộc họp sơ kết giữa năm 2026 của các nhà băng, những cụm từ như CASA, vốn tự có, Basel III, AI, chuyển đổi số, hệ sinh thái khách hàng hay quản trị rủi ro xuất hiện với tần suất dày đặc hơn trước. Đây không còn là những dự án đầu tư cho tương lai, mà đã trở thành điều kiện để duy trì năng lực cạnh tranh ngay trong hiện tại.
“Áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu”
![]() |
| Bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Khối Nghiên cứu Công ty Chứng khoán MB (MBS) |
Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng từ mức 98,9 điểm cuối tháng 5/2026 lên 101,61 điểm vào ngày 24/6/2026 - mức cao nhất trong khoảng một năm trở lại đây - trước khi giảm nhẹ về 101,19 điểm vào cuối tháng, tăng 2,3% so với cuối tháng trước và khoảng 3% so với đầu năm. Động lực chính đến từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất ít nhất 1 lần trong năm nay nhằm kiểm soát lạm phát.
Mặc dù Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5 - 3,75%/năm trong kỳ họp tháng 6, biểu đồ Dot Plot đã cho thấy khả năng tăng lãi suất của Ngân hàng Trung ương Mỹ trong thời gian tới khi mức lãi suất quỹ liên bang cuối năm 2026 được dự báo ở mức trung vị 3,8%/năm, cao hơn mức 3,6%/năm hiện nay. Theo công cụ FedWatch của CME, thị trường đang định giá khoảng 50% khả năng Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản trong cuộc họp tháng 9.
Mặc dù đồng Việt Nam vẫn duy trì sự ổn định tương đối, áp lực đối với tỷ giá được dự báo sẽ còn tiếp diễn trong thời gian tới. Đồng USD nhiều khả năng tiếp tục được hỗ trợ bởi lập trường thận trọng của Fed, thậm chí thị trường đang kỳ vọng chu kỳ tăng lãi suất có thể bắt đầu từ tháng 9 năm nay. Bên cạnh đó, thặng dư thương mại có xu hướng thu hẹp khi nhập khẩu vẫn tăng nhanh hơn xuất khẩu nhằm phục vụ hoạt động sản xuất. Dù xuất khẩu được kỳ vọng cải thiện từ cuối quý II nhờ bước vào mùa cao điểm, mức cải thiện của cán cân thương mại có thể không lớn, trong khi chi phí vận tải vẫn ở mức cao và đồng USD mạnh lên sẽ làm gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Ở chiều ngược lại, mặt bằng lãi suất trong nước duy trì ở mức cao cùng với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tích cực sẽ tiếp tục là những yếu tố hỗ trợ đồng Việt Nam. Theo đó, tỷ giá USD/VND được dự báo dao động trong vùng 26.800 - 27.000 đồng/USD vào cuối năm 2026, tương ứng mức tăng khoảng 2-2,8% so với đầu năm.
Về điều hành chính sách tiền tệ, sau hai tháng liên tiếp bơm ròng, Ngân hàng Nhà nước đã quay trở lại hút ròng trên thị trường mở trong tháng 6. Cơ quan điều hành đã bơm hơn 214.000 tỷ đồng qua kênh OMO với các kỳ hạn từ 7 - 56 ngày và lãi suất 4,5%/năm, trong khi lượng đáo hạn đạt hơn 300.900 tỷ đồng, qua đó hút ròng khoảng 86.900 tỷ đồng. Khối lượng OMO lưu hành giảm còn khoảng 245.400 tỷ đồng, tương đương giảm gần một nửa so với mức đỉnh thiết lập đầu tháng 2.
Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng, lãi suất liên ngân hàng vẫn giảm khá mạnh trong phần lớn thời gian của tháng. Lãi suất qua đêm từ mức 10,1%/năm đầu tháng giảm xuống 2,85%/năm vào ngày 26/6/2026 - mức thấp nhất trong 4 tháng - trước khi tăng trở lại lên 7,25%/năm vào cuối tháng do yếu tố mùa vụ khi nhu cầu thanh toán của doanh nghiệp tăng cao vào thời điểm cuối quý. Lãi suất kỳ hạn một tuần kết tháng ở mức 8,35%/năm, trong khi các kỳ hạn từ một đến sáu tháng dao động quanh 7,9%/năm.
Trong khi đó, mặt bằng lãi suất huy động đã bắt đầu có dấu hiệu chững lại sau giai đoạn tăng mạnh trong quý I/2026. Khác với những tháng trước, việc điều chỉnh lãi suất không còn diễn ra trên diện rộng mà chủ yếu tập trung ở nhóm ngân hàng thương mại quy mô vừa. Trong số 16 ngân hàng được MBS theo dõi, tháng 6 ghi nhận 6 ngân hàng tăng lãi suất huy động từ 0,1 - 0,5%/năm ở các kỳ hạn từ 6-24 tháng, giảm so với 9 ngân hàng của tháng trước. Đồng thời, có 4 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất từ 0,1 - 0,2%/năm.
Đến cuối tháng 6, lãi suất huy động dưới 12 tháng cao nhất đạt 8,8%/năm; riêng kỳ hạn 12 tháng, LPBank niêm yết mức cao nhất 9%/năm. Lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng Tier 1 tăng thêm 3 điểm cơ bản so với cuối tháng 5 lên 8,3%/năm; nhóm Tier 2 tăng 10 điểm cơ bản lên 8,52%/năm;bình quân toàn hệ thống đạt khoảng 8,4%/năm, cao hơn 259 điểm cơ bản so với đầu năm. Dù một số ngân hàng đã giảm lãi suất từ đầu quý II/2026, mặt bằng lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao do đã tăng mạnh trong quý I và tín dụng tiếp tục tăng với tốc độ gần gấp rưỡi tăng trưởng huy động vốn. Điều này cho thấy áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng nhiều khả năng sẽ còn hiện hữu trong những tháng cuối năm khi nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục gia tăng.

