Nới room vốn dài hạn cho ngân hàng: “Cả nhà cùng vui”!

0:00 / 0:00
0:00
(ĐTCK) Từ ngày 1/7/2026, quy định nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% chính thức có hiệu lực, mở thêm dư địa tín dụng cho hệ thống ngân hàng.
Ông Trần Minh Hoàng, Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS) Ông Trần Minh Hoàng, Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS)

Chính sách này sẽ hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và cải thiện triển vọng lợi nhuận của nhiều nhóm ngành, song tác động trực tiếp đến dòng tiền trên thị trường chứng khoán sẽ không quá lớn. Động lực chính của thị trường trong nửa cuối năm vẫn đến từ kỳ vọng nâng hạng, dòng vốn ngoại và tăng trưởng lợi nhuận doanh nghiệp.

Chưa tác động nhiều đến dòng tiền trên Thị trường chứng khoán

Ngân hàng Nhà nước đã chính thức nâng mức trần tỷ lệ sử dụng vốn vay ngắn hạn để cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40%, áp dụng đối với các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài từ 1/7/2026. Về bản chất, hành động này là một điều chỉnh về cấu trúc vốn trong hệ thống ngân hàng, nhằm hỗ trợ các tổ chức tín dụng có thêm dư địa cung ứng tín dụng trung và dài hạn, thay vì tạo ra một lượng tiền mới chảy ngay vào thị trường tài sản.

Theo ước tính của chúng tôi, tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn của hệ thống ngân hàng sẽ trở lại mức 48-49% như giai đoạn 2020 - 2021 (năm 2025 ghi nhận tỷ lệ 46%), tương đương tốc độ tăng trưởng ước tính đạt 23% trong năm 2026. Dự báo, lượng dư nợ trung dài hạn tối đa có thể bơm thêm vào nền kinh tế ước tính đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng. Phần dư nợ tăng thêm này chủ yếu sẽ hỗ trợ các ngành có chu kỳ hoàn vốn dài như bất động sản, năng lượng tái tạo, đầu tư công và hạ tầng công nghiệp. Theo đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn ngành kỳ vọng đạt 17% trong năm nay.

Trong bối cảnh lãi suất huy động dài hạn thường cao hơn đáng kể so với kỳ hạn ngắn, việc được phép sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn sẽ giúp áp lực phải phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 kỳ hạn dài với lãi suất cao, góp phần cải thiện chi phí vốn và hỗ trợ NIM của ngân hàng trong nửa cuối năm 2026.

Về phía thị trường chứng khoán, tác động của thông tin trên tới dòng tiền trên thị trường là không nhiều bởi quyết định phân bổ dòng vốn của nhà đầu tư phụ thuộc nhiều hơn vào các yếu tố sau: tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và thế giới, xu hướng dòng tiền của nhà đầu tư nước ngoài và triển vọng tăng trưởng của các doanh nghiệp niêm yết.

Từ đầu năm 2026, áp lực lạm phát và mặt bằng lãi suất trong nước có xu hướng gia tăng, chủ yếu chịu tác động lan tỏa từ các yếu tố vĩ mô quốc tế. Trong đó, xung đột địa chính trị leo thang tại Trung Đông đã kích hoạt đà tăng của giá năng lượng và hàng hóa cơ bản, trực tiếp tạo áp lực chi phí đẩy lên thị trường nội địa. Song song đó, rủi ro lạm phát nhập khẩu ngày càng hiện hữu do áp lực tỷ giá dưới hiệu ứng duy trì lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed). Trước bối cảnh đó, Việt Nam chủ động áp dụng chính sách điều tiết tiền tệ linh hoạt và chấp nhận duy trì nền lãi suất cao; động thái này dù gây áp lực lên dòng vốn và thị trường chứng khoán trong ngắn hạn, nhưng là cần thiết để ổn định thanh khoản, tái định hướng nguồn vốn vào khu vực sản xuất - kinh doanh, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng hai chữ số...

Bên cạnh đó, một trong những động lực bứt phá trọng yếu đối với thị trường chứng khoán trong năm nay là kỳ vọng về sự tham gia mạnh mẽ trở lại của dòng vốn nước ngoài khi FTSE Russell chính thức công bố nâng hạng lên thị trường mới nổi đối với Việt Nam (vào tháng 9/2026). Dòng vốn từ các quỹ ETF được dự báo lên tới khoảng 700 triệu USD và được chia thành 4 đợt phân bổ, diễn ra trong vòng 1 năm. Ngoài ra, kỳ vọng về dòng vốn từ các quỹ chủ động còn lớn hơn, ước tính 5 - 6 tỷ USD và đây sẽ là một trong những động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán trong trung và dài hạn.

Nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối có tỷ lệ SMLR ở mức rất an toàn sẽ có điều kiện đẩy mạnh cho vay trung dài hạn

Nhóm ngân hàng có vốn Nhà nước chi phối có tỷ lệ SMLR ở mức rất an toàn sẽ có điều kiện đẩy mạnh cho vay trung dài hạn

Triển vọng từng nhóm cổ phiếu ngân hàng

Theo đó, chúng tôi đánh giá triển vọng của từng nhóm ngân hàng với việc Thông tư 25 được thông qua như sau:

Nhóm ngân hàng quốc doanh (BID, CTG, VCB) luôn duy trì tỷ lệ SMLR ở mức rất an toàn (dao động từ 20 - 25%). Nhóm này sở hữu lợi thế lớn về cấu trúc tiền gửi có kỳ hạn dài ổn định và lượng vốn điều lệ lớn. Cùng với việc Thông tư 08 sửa đổi công thức tính LDR cho phép bổ sung trở lại 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào huy động, nhóm này sẽ được hỗ trợ thanh khoản nhằm thúc đẩy tín dụng các lĩnh vực xây dựng đầu tư công, tài trợ dự án hạ tầng giao thông, năng lượng...

Nhóm ngân hàng tư nhân lớn (TCB, MBB, STB, ACB, VPB) kiểm soát tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn (SMLR) ổn định xung quanh mức khá cao 24 - 27%. Nhóm này tận dụng tốt dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) dồi dào để tối ưu hóa chi phí vốn mà không vi phạm quy định rủi ro kỳ hạn. Dự thảo được thông qua sẽ tạo thêm dư địa đẩy mạnh cho vay các phân khúc có lợi suất cao như cho vay mua nhà, cho vay dự án hạ tầng và bất động sản, đồng thời giảm nhu cầu huy động vốn dài hạn với chi phí cao, qua đó hỗ trợ cải thiện NIM.

Nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ: Một số ngân hàng quy mô nhỏ có tỷ trọng cho vay xây dựng - bất động sản rất cao và đang bám sát trần quy định với mức tỷ lệ SMLR sát ngưỡng 29 - 30%. Việc Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng trần lên 40% đã tháo gỡ áp lực trực tiếp cho nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, giảm bớt cuộc đua lãi suất huy động kỳ hạn dài.

Nhóm tiên phong triển khai sớm Basel III (VIB, TCB, ACB, VPB, HDB, TPB, OCB) sẽ có lợi thế lớn nhờ việc được miễn áp dụng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và nới lỏng room tăng trưởng tín dụng. Nhờ đó, các ngân hàng này có thể tối ưu hóa việc sử dụng vốn và bảo vệ NIM, đồng thời chủ động cân bằng giữa rủi ro và tăng trưởng trong dài hạn.

Mặt khác, động lực cốt lõi khác củng cố cho xu hướng tăng của thị trường chứng khoán là kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận các công ty niêm yết tiếp tục duy trì ở mức tích cực, dao động từ 15 - 20%. Tốc độ tăng trưởng này sẽ đưa mức định giá dự phóng (Forward P/E) của VN-Index về quanh mức 12 - 13.x lần và giao dịch thấp hơn đáng kể so với bình quân 5 năm. Điều này cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam đang trở nên hấp dẫn hơn vì đây được coi là “vùng giá rẻ” dưới góc độ cơ bản. Khi triển vọng tăng trưởng của các doanh nghiệp niêm yết tiếp tục duy trì ở mức cao, niềm tin của nhà đầu tư sẽ theo đó được củng cố, giúp duy trì và gia tăng dòng tiền từ cả khối nội và khối ngoại vào thị trường.

Nhìn chung, với triển vọng về dòng vốn ngoại khi nâng hạng cùng quyết tâm tăng trưởng trên 2 chữ số của Chính phủ, kỳ vọng thị trường chứng khoán sẽ duy trì xu hướng tăng chủ đạo trong giai đoạn nửa cuối năm. Mốc điểm số của VN-Index được dự báo có thể vượt 2.000 điểm, tức cao hơn 11,44% so với mốc cao nhất năm 2025.

Trần Minh Hoàng
Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Vietcombank (VCBS)

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục