Bà Đoàn Thị Ánh Nguyệt, Chuyên gia cao cấp ngành tài chính, Công ty Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội
Nhìn lại nửa đầu năm 2026, tín dụng phục hồi khá nhanh nhưng thanh khoản hệ thống cũng bắt đầu chịu nhiều sức ép. Theo bà, trạng thái này phản ánh điều gì về chu kỳ mới của ngành ngân hàng và đâu là điểm khác biệt lớn nhất so với giai đoạn 2023 - 2025?
Năm 2026, Ngân hàng Nhà nước định hướng điều hành tín dụng thận trọng, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15%, thấp hơn mức 19% của năm 2025. Từ cuối quý II, chính sách điều hành dần chuyển sang hỗ trợ có chọn lọc khi áp lực tỷ giá và giá năng lượng hạ nhiệt, tập trung cải thiện thanh khoản và ưu tiên tín dụng trung dài hạn cho các dự án hạ tầng trọng điểm. Đến cuối tháng 6, tăng trưởng tín dụng ước đạt khoảng 7%, nhưng thanh khoản hệ thống bắt đầu chịu áp lực do chênh lệch giữa tín dụng và huy động ngày càng lớn, cùng với tình trạng mất cân đối kỳ hạn khi tiền gửi ngắn hạn vẫn chiếm khoảng 80% tổng huy động, trong khi dư nợ trung dài hạn đang chiếm gần 50% tổng dư nợ và ngày càng có xu hướng tăng với những dự án đầu tư hạ tầng lớn liên tiếp được triển khai.
Diễn biến này cho thấy hệ thống ngân hàng đang chuyển từ trạng thái “dư thanh khoản - thiếu cầu tín dụng” sang “tín dụng tăng nhanh nhưng thanh khoản dần thu hẹp”. Do đó, trọng tâm điều hành không còn chỉ là kích thích tín dụng như giai đoạn 2023 - 2025 mà chuyển sang cân bằng giữa tăng trưởng tín dụng, đảm bảo thanh khoản và kiểm soát chất lượng tài sản. Đây là điểm khác biệt so với giai đoạn 2023 - 2025, khi bài toán lớn nhất là kích thích cầu tín dụng với lãi suất thấp nhằm hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh thanh khoản dồi dào.
Tăng trưởng tín dụng tiếp tục vượt xa huy động, tạo ra khoảng lệch vốn và gây áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng. Đây không phải là biến động một quý mà là xu hướng kéo dài từ năm 2025 sang năm 2026, khi lãi suất huy động được duy trì ở mức thấp và tín dụng được đẩy mạnh nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã lên khoảng 145%, thuộc nhóm cao nhất trong số các quốc gia có thu nhập trung bình thấp, hàm ý hệ thống đã bơm vốn vào nền kinh tế với tốc độ cao hơn khả năng tích lũy tiết kiệm nội địa, buộc ngân hàng phải dựa nhiều hơn vào nguồn vốn khác (liên ngân hàng, giấy tờ có giá) để tài trợ cho tăng trưởng tín dụng. Áp lực thanh khoản và cuộc đua lãi suất huy động toàn hệ thống trong nửa đầu năm 2026 cho thấy hệ thống ngân hàng đã tiến đến điểm tới hạn về cơ cấu nguồn vốn và hệ số an toàn hoạt động, buộc hệ thống phải đẩy mạnh huy động nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay.
Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều động thái nới lỏng trong ngắn hạn nhằm hỗ trợ thanh khoản toàn hệ thống qua bơm ròng trên thị trường mở, mua ngoại tệ có kỳ hạn và nới lỏng một số chỉ tiêu về tỷ lệ thanh khoản. Thông tư 25/2026/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN về các chỉ tiêu an toàn của hệ thống ngân hàng cho phép ngân hàng tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào tổng huy động khi tính toán tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) và nâng tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (SMLR) từ 30% lên 40%. Với số dư tiền gửi Kho bạc tại thời điểm cuối quý I/2026, quyết định này tương đương việc cho phép 106.000 tỷ đồng được bổ sung vào cho vay và trên 1,3 triệu tỷ đồng vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn.
Các quy định này hỗ trợ tích cực đến thanh khoản toàn hệ thống, giúp lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt, lãi suất huy động hệ thống ngân hàng ổn định trở lại và tình hình giải ngân tín dụng toàn hệ thống cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, với thực tế nhu cầu vốn đầu tư tăng trưởng, đặc biệt tại các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng là rất lớn, áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng vẫn sẽ hiện hữu.
![]() |
Hiệu quả quản trị sẽ quyết định vị thế của ngân hàng trong chu kỳ mới |
Dư địa chính sách tiền tệ đang thu hẹp dần. Theo bà, từ nửa cuối năm nay, vai trò của chính sách tiền tệ sẽ thay đổi như thế nào và đâu sẽ là động lực mới cho tăng trưởng kinh tế?
Khi dư địa chính sách tiền tệ thu hẹp dần, chính sách tài khóa và đẩy mạnh phát triển thị trường vốn được kỳ vọng đóng vai trò lớn hơn trong nửa cuối năm 2026 và các năm tiếp theo. Đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, mở rộng đầu tư hạ tầng, nâng cao năng suất và cải thiện môi trường đầu tư sẽ là những động lực tác động trực tiếp đến tổng cầu mà không tạo thêm áp lực lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Song song với đó, việc phát triển hiệu quả hơn thị trường vốn (thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp) nhằm cung ứng nguồn vốn trung, dài hạn sẽ trở thành những động lực tăng trưởng bền vững hơn, thay cho việc phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng.
Bộ Tài chính vừa trình Chính phủ xem xét ban hành Nghị định quy định việc chào bán trái phiếu ra công chúng của doanh nghiệp dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP). Bản dự thảo Nghị định cho thấy định hướng chuyển phần lớn rủi ro tài trợ hạ tầng dài hạn ra khỏi bảng cân đối của các ngân hàng. Vai trò của ngân hàng sẽ dịch chuyển theo hướng thu xếp, bảo lãnh và trung gian, thay vì nắm giữ các khoản vay kỳ hạn dài, giúp giảm áp lực bảng cân đối từ các khoản tài trợ hạ tầng dài hạn, đồng thời vẫn duy trì nguồn thu phí trong chuỗi tài trợ dự án.
Như vậy, nếu giai đoạn 2023 - 2025 có thể được xem là thời kỳ “tiền tệ gánh tăng trưởng” thì từ nửa cuối năm 2026, bức tranh có xu hướng chuyển sang “phối hợp chính sách”. Chính sách tiền tệ vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng sẽ thiên về giữ ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống tài chính, trong khi chính sách tài khóa và phát triển thị trường vốn sẽ đảm nhận vai trò lớn hơn trong việc tạo dư địa cho tăng trưởng kinh tế trung và dài hạn.
Quan sát các ngân hàng gần đây, có thể thấy họ đang đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, AI, xử lý tài sản, tăng vốn và nâng cao quản trị. Theo bà, đâu sẽ là yếu tố tạo khác biệt giữa các ngân hàng trong chu kỳ tăng trưởng mới?
Trong bối cảnh chuyển đổi số, AI và chuẩn Basel III dần trở thành tiêu chuẩn chung, lợi thế cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ không còn đến từ quy mô mà đến từ chất lượng quản trị và hiệu quả hoạt động. Trước hết, dữ liệu và năng lực ứng dụng AI sẽ quyết định khả năng tối ưu chi phí, nâng cao chất lượng tín dụng và cá nhân hóa dịch vụ. Bên cạnh đó, bộ đệm vốn, khả năng huy động vốn chi phí thấp (CASA) và mức độ đáp ứng các chuẩn mực Basel III sẽ quyết định dư địa tăng trưởng tín dụng trong dài hạn.
Đồng thời, quản trị rủi ro và đa dạng hóa nguồn thu sẽ trở thành yếu tố phân hóa rõ nét. Các ngân hàng có hệ thống quản trị rủi ro tốt, chủ động trích lập dự phòng, cùng nguồn thu ngoài lãi từ thanh toán, quản lý tài sản, bảo hiểm và ngân hàng đầu tư sẽ duy trì tăng trưởng bền vững hơn trong bối cảnh NIM chịu áp lực. Chu kỳ tăng trưởng mới, vì vậy, sẽ là cuộc đua về hiệu quả sử dụng vốn, quản trị rủi ro và năng lực khai thác công nghệ, thay vì chỉ mở rộng quy mô tín dụng.
Bà dự báo bức tranh ngành ngân hàng trong 6 tháng cuối năm ra sao?
Bức tranh 6 tháng cuối năm có thể được mô tả bằng ba từ khóa: tăng trưởng - phân hóa - thận trọng. Tăng trưởng vẫn là xu hướng chủ đạo của ngành ngân hàng nhờ nhu cầu tín dụng lớn, đặc biệt ở các dự án xây dựng hạ tầng. Phân hóa trong ngành sẽ rõ hơn giữa các ngân hàng dựa trên năng lực quản trị, chất lượng tài sản và chi phí vốn. Còn sự thận trọng sẽ đến từ yêu cầu cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế với việc bảo đảm thanh khoản, kiểm soát rủi ro và duy trì ổn định tài chính. Đây sẽ là giai đoạn mà hiệu quả quản trị, chứ không chỉ tốc độ tăng trưởng, quyết định vị thế của mỗi ngân hàng trong chu kỳ mới.
Bối cảnh này đem đến cơ hội cho các ngân hàng có bộ đệm vốn cao, nền tảng huy động vững, năng lực quản trị tín dụng, quản trị chi phí và có lợi thế cấu trúc về thu nhập phí sẽ có cơ hội phát triển nhanh hơn so với ngành. Rủi ro lớn nhất vẫn là áp lực thanh khoản khi nhu cầu tín dụng gia tăng, khiến chi phí vốn neo cao lâu hơn dự kiến, gây ảnh hưởng đến biên lợi nhuận cũng như chất lượng tín dụng toàn ngành.
