Ngân hàng tăng cường huy động vốn quốc tế

(ĐTCK) Trong bối cảnh huy động vốn trong nước vẫn hụt hơi so với tín dụng và chi phí vốn VND tăng mạnh, nhiều ngân hàng lên kế hoạch tiếp cận hàng tỷ USD vốn quốc tế.
HDBank thiết lập quan hệ hợp tác với IFC nhằm thúc đẩy tài chính bền vững.

Tăng cường huy động vốn quốc tế

Trong khuôn khổ hợp tác với Sở Giao dịch chứng khoán Luân Đôn (London Stock Exchange - LSE), giữa tháng 4/2026, HDBank công bố kế hoạch phát hành tối đa 300 triệu USD trái phiếu xanh quốc tế. Đây là sản phẩm hợp tác đầu tiên giữa HDBank và LSE.

Trước đó, HDBank đã huy động gần 1 tỷ USD nguồn vốn xanh từ các định chế tài chính quốc tế. Trong bối cảnh dòng vốn quốc tế đang tái cấu trúc theo hướng chọn lọc và bền vững hơn, nhu cầu kết nối sâu hơn với các thị trường vốn toàn cầu của TP.HCM và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ngày càng trở nên rõ nét, đặc biệt đối với các doanh nghiệp trong hệ sinh thái Trung tâm Tài chính Quốc tế (VIFC).

Không chỉ hợp tác với LSE, HDBank đã thiết lập quan hệ hợp tác với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) nhằm thúc đẩy tài chính bền vững, tài chính khí hậu, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) và phát triển tài chính chuỗi cung ứng.

VIB cũng lên phương án huy động 1 tỷ USD từ thị trường quốc tế, bao gồm phát hành trái phiếu, nhằm giảm phụ thuộc vào thị trường trong nước và tối ưu chi phí tài chính.

Ông Lê Quang Trung, Phó tổng giám đốc VIB cho biết, khi thăm dò một thương vụ quy mô 500 triệu USD, nhiều định chế tài chính quốc tế đã bày tỏ sẵn sàng tham gia. Với lãi suất USD khoảng 5,75 - 6%/năm, các tổ chức này có thể giải ngân hàng tỷ USD vào thị trường Việt Nam và VIB cũng có kế hoạch để huy động vốn quốc tế.

Trong khi đó, ông Ngô Chí Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị VPBank cho biết, Ngân hàng đã huy động được nguồn vốn rất lớn từ nước ngoài thông qua đối tác chiến lược SMBC (Nhật Bản).

“Có những thời điểm, nguồn vốn này có chi phí rẻ hơn so với vốn huy động trong nước. Hơn nữa, đó là nguồn vốn dài hạn, giải quyết được vấn đề trong ngành ngân hàng lâu nay là huy động ngắn hạn cho vay trung dài hạn. Nhờ có nguồn vốn đó mà VPBank giảm áp lực huy động vốn trong nước”, ông Dũng chia sẻ. Theo lãnh đạo VPBank, Ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động này.

Thông tin từ Nam A Bank cho biết, Ngân hàng đang tiến tới ký kết thỏa thuận khoản vay khoảng 100 triệu USD với IFC; trong đó, 50 triệu USD cho tài trợ thương mại và phần còn lại là vốn trung dài hạn (đi kèm với các cam kết tài chính nghiêm ngặt).

Năm nay, Nam A Bank có kế hoạch huy động khoảng 300 triệu USD từ các định chế tài chính nước ngoài. Nếu thương vụ hoàn tất, tổng danh mục nguồn vốn quốc tế của Ngân hàng từ trước tới nay đạt 500 triệu USD.

Giải quyết Bài toán cân đối vốn

Việc tiếp cận nguồn vốn quốc tế với chi phí phù hợp, ổn định và nhất là huy động được vốn dài hạn sẽ giúp các nhà băng không chịu áp lực phải huy động vốn trong nước với lãi suất kỳ hạn dài lên tới 9 - 10%/năm. Động lực tăng lãi suất huy động trong nước theo đó giảm xuống, sẽ là tiền đề quan trọng để các doanh nghiệp trong nền kinh tế tiếp cận được nguồn vốn tín dụng với chi phí ổn định, phù hợp.

Để tiếp cận được nguồn vốn từ các định chế tài chính nước ngoài, đòi hỏi các nhà băng trong nước phải đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe.

Phó tổng giám đốc VIB Lê Quang Trung cho biết, áp lực lạm phát, tỷ giá và biến động địa chính trị toàn cầu đã khiến lãi suất hệ thống tạo lập một mặt bằng mới và kỷ nguyên tiền rẻ đã tạm thời kết thúc. Mặt bằng mới này xuất phát từ rủi ro cấu trúc hệ thống, cụ thể là chênh lệch giữa huy động và cho vay.

Những năm gần đây, tín dụng tăng trưởng rất nóng, tín dụng bình quân toàn ngành năm ngoái đã vượt mốc 19%, thậm chí một số ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng lên tới 34 - 35%.

Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng huy động vốn từ khu vực dân cư và doanh nghiệp lại không theo kịp, tạo ra mức chênh lệch khoảng hơn 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng bắt buộc phải tìm cách bù đắp khoản thiếu hụt này.

Đơn cử như VIB, ngoài huy động từ thị trường 1 (khu vực tổ chức kinh tế và dân cư), Ngân hàng đang đẩy mạnh vay vốn từ nước ngoài. Nhiều ngân hàng khác cũng đang có động thái tương tự. Đáng nói, giá vốn quốc tế đã về mức thấp hơn và nhà phát hành có thể tiếp cận, chấp nhận chi trả.

Trước đây, lãi suất vay nước ngoài thường cao hơn mặt bằng trong nước do Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) neo lãi suất ở mức 4,5- 4,75%/năm, cộng thêm phần bù rủi ro tín dụng thì chi phí vốn quá cao, không thể vay được.

Tuy nhiên, sau 3 đợt cắt giảm lãi suất của Fed trong năm 2025, lãi suất cơ sở có thể về mức 3,75%/năm. Tính thêm biên độ NIM và chi phí hoán đổi ngoại tệ (swap), tổng chi phí vốn sẽ rơi vào mức 8,5 - 8,75%/năm.

Từ phía nhà đầu tư sẵn sàng rót vốn, ông Trung cho biết, các định chế tài chính nước ngoài cũng nhận định, Việt Nam có sức hút lớn với 2 yếu tố chính.

Thứ nhất là kỳ vọng thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp vào tháng 9/2026 và có khả năng lọt vào rổ chỉ số MSCI. Quan trọng hơn, kỳ vọng nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức BBB sẽ là thỏi nam châm thu hút dòng vốn toàn cầu. Các nhà đầu tư nước ngoài đều muốn đón đầu xu hướng này.

Nhờ đó, Việt Nam được hưởng mức bù rủi ro tín dụng thấp hơn thực tế. Các quốc gia như Indonesia hay Philippines rất bất ngờ khi thấy hồ sơ rủi ro của Việt Nam cao hơn, nhưng chi phí vay vốn lại thấp hơn họ.

Thứ hai là mục tiêu tăng trưởng GDP năng động của Việt Nam. Đối với nhà đầu tư quốc tế, tăng trưởng là yếu tố cực kỳ quan trọng, khác biệt hoàn toàn với sự chững lại của các nước trong khu vực như Thái Lan. Việc Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao tạo ra một câu chuyện hấp dẫn.

Bên cạnh đó, Việt Nam thành lập VIFC cũng góp phần tạo thêm kênh thu hút vốn quốc tế. Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành VIFC tại TP.HCM (VIFC-HCMC), sau 3 tháng vận hành, dù vẫn trong giai đoạn hoàn thiện hạ tầng và khung pháp lý, Trung tâm đã thiết lập quan hệ hợp tác với nhiều định chế tài chính lớn như Nasdaq, London Stock Exchange, Binance và TikTok.

Đáng chú ý, VIFC-HCMC đã nhận được các cam kết đầu tư với tổng quy mô khoảng 19,1 tỷ USD.

Theo đánh giá của các chuyên gia, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, Việt Nam đang có cơ hội đón làn sóng dịch chuyển và đa dạng hóa địa điểm đầu tư, tương tự cách Dubai vươn lên trong thập kỷ qua để cạnh tranh với các trung tâm tài chính như Hồng Kông (Trung Quốc) và Singapore.

Về xuất xứ dòng vốn, giới phân tích cho rằng, hiện nguồn vốn từ châu Âu và Mỹ chưa vào nhiều, nhưng dòng tiền từ châu Á lại rất dồi dào. Nguồn vốn từ Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Trung Quốc đại lục đang quay trở lại Việt Nam.

Các nhà đầu tư từ Nhật Bản, Hàn Quốc… sau khi đổ lượng lớn vốn vào Mỹ, đang có xu hướng đa dạng hóa danh mục sang khu vực Đông Nam Á vì tính ổn định. Ngoài ra, Singapore đóng vai trò như một trung tâm tài chính trung chuyển, thu hút tiền từ châu Âu và Mỹ để tái đầu tư vào khu vực. Lượng vốn này ước tính có thể lên tới 3 tỷ USD.

Tuy nhiên, để tiếp cận được nguồn vốn từ các định chế tài chính nước ngoài, đòi hỏi các nhà băng trong nước phải đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe. Nhiều chuyên gia tài chính cũng lưu ý, một thương vụ huy động như vậy thường mất khoảng 60 ngày để hoàn tất (từ khởi động đến chính thức nhận vốn, bao gồm các thủ tục pháp lý và tài liệu vay).

Một chuyên gia quốc tế cũng nhận định, trong bối cảnh cấu trúc tài chính toàn cầu đang thay đổi, khả năng kết nối hiệu quả giữa dòng vốn, công nghệ và chính sách sẽ quyết định vị thế của các trung tâm tài chính mới nổi.

Việt Nam đang có những điều kiện thuận lợi để tham gia sâu hơn vào mạng lưới tài chính toàn cầu, các sáng kiến hợp tác như giữa ngân hàng Việt Nam và các định chế tài chính nước ngoài là những bước đi quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đó.

Minh Ngọc

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục