Ngân hàng neo lãi suất cao cạnh tranh hút tiền

(ĐTCK) Cung - cầu vốn mất cân đối buộc các nhà băng phải giữ mặt bằng lãi suất tiết kiệm cao để hút tiền.
Lãi suất huy động hiện phổ biến ở vùng 8 - 9,2%/năm cho kỳ hạn từ 6-12 tháng

Lãi suất tiết kiệm trên 9%/năm khá phổ biến

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho hay, trong 2 tháng gần đây, tốc độ tăng lãi suất đã chậm lại, khi mức tăng bình quân mỗi tháng là 0,2%/năm, trong khi mức tăng bình quân trong 6 tháng đầu năm khoảng 0,3%/năm mỗi tháng.

Tuy nhiên, thực tế trên thị trường cho thấy, mặt bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm vẫn có xu hướng đi lên, nhất là ở những ngân hàng số. Cụ thể, với số tiền gửi từ 500 triệu đồng, lần đầu gửi tiền tại CAKE by VPBank, người gửi tiền sẽ được áp dụng mức lãi suất lên tới 9,6%/năm, gồm lãi suất niêm yết 7,4%/năm và lãi thưởng 2,2%/năm. Trong khi đó, VikkiBank áp dụng lãi suất tiết kiệm kỳ hạn từ 6 - 12 tháng lên đến 9,48%/năm. Đây là hai trong những mức lãi suất cao nhất được ghi nhận trên thị trường tiền gửi. Hầu hết các ngân hàng khác hiện vẫn trả lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 - 12 tháng ở mức từ 8 - 9,2%/năm.

Đây chưa phải là những mức lãi suất cao nhất mà các ngân hàng phải trả cho nguồn vốn huy động được. Hiện một số ngân hàng đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi với lãi suất chạm 10%/năm. Đáng chú ý, PVcomBank mới phát hành lô trái phiếu kỳ hạn 10 năm có tổng giá trị 200 tỷ đồng, lãi suất 10,5%/năm. Trong quý III, PVcomBank phát hành huy động vốn qua hình thức trái phiếu 4.000 tỷ đồng, có lô lãi suất 9,6%/năm.

Nhận định về xu hướng lãi suất, TS. Châu Đình Linh, giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM cho rằng, nhu cầu vốn của nền kinh tế hiện nay gia tăng tương ứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, áp lực cân đối cung - cầu vốn đang tạo ra sức ép lớn lên mặt bằng lãi suất. Phía người gửi tiền cũng đòi hỏi mức lãi suất tiết kiệm cao hơn để tạo phần bù cho rủi ro lạm phát. Tổng hòa hai yếu tố trên, ông Linh cho rằng, “mặt bằng lãi suất có thể ổn định hoặc tăng, khó có khả năng giảm trong thời gian tới”.

Báo cáo của Ngân hàng UOB cho biết, CPI toàn phần của Việt Nam trong tháng 9 tăng 0,62% so với tháng trước, đẩy lạm phát lên 5,08% so với cùng kỳ, từ mức 4,89% của tháng 8 và là mức cao nhất kể từ tháng 5. CPI bình quân quý III/2026 đạt 4,8% so với cùng kỳ, trong khi mức bình quân 9 tháng đầu năm 2026 đã tăng lên 4,52%, tương đương mức trần mục tiêu 4,5%, còn lạm phát cơ bản bình quân đạt 4,26%.

Bộ phận Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế toàn cầu Ngân hàng UOB đánh giá, triển vọng lạm phát trong quý IV/2026 cho thấy những tín hiệu trái chiều. Tác động lan tỏa từ giá năng lượng vẫn hiện hữu, nhu cầu trong nước duy trì ở mức cao và tăng trưởng tín dụng vẫn quanh ngưỡng 16% so cùng kỳ (tính đến cuối tháng 8). Ngược lại, lạm phát giá đầu ra theo khảo sát PMI đã giảm tháng thứ năm liên tiếp, trong khi nền so sánh của quý IV/2025 (đặc biệt tháng 11/2025 ở mức 3,58%) cao hơn so giai đoạn đầu năm. UOB kỳ vọng CPI toàn phần của Việt Nam sẽ duy trì quanh mức 5% trong quý IV/2026, kéo lạm phát bình quân cả năm lên khoảng 4,7% (so dự báo trước đó của UOB ở mức 4,1%), vượt mục tiêu chính thức 4,5%.

Tiền nhàn rỗi chọn gửi ngân hàng

Theo ông Châu Đình Linh, khi lạm phát có xu hướng đi lên, người gửi tiền có xu hướng lựa chọn các ngân hàng trả lãi suất cao hơn để bảo toàn giá trị tài sản, từ đó, cấu thành lãi suất cho vay và bài toán điều hành. Để duy trì nguồn vốn ổn định và giữ chân người gửi tiền, các ngân hàng bắt buộc phải trả mức lãi suất đầu vào cao hơn, từ đó gây áp lực trực tiếp lên lãi suất cho vay đầu ra.

Theo dữ liệu gần nhất của NHNN về tình hình huy động và cho vay của hệ thống, tính đến cuối tháng 7/2026, tiền gửi dân cư đạt 11,2 triệu tỷ đồng, tăng gần 9% so với cuối năm ngoái khi mặt bằng lãi suất huy động neo ở mức cao. Các tổ chức tín dụng đã hút ròng gần 900.000 tỷ đồng tiền gửi của người dân kể từ đầu năm, lên mức cao nhất theo dữ liệu thống kê của NHNN. Riêng trong tháng 7, tiền gửi dân cư tăng hơn 150.000 tỷ đồng, tức khoảng 1,37% so tháng trước. Ngược lại, các tổ chức kinh tế giảm tiền gửi tại ngân hàng. Nhóm này gửi 6,24 triệu tỷ đồng, sụt 2% so với tháng trước và đứt chuỗi tăng 5 tháng liên tiếp. Dù vậy, tính chung toàn hệ thống, lượng tiền gửi vẫn nhích thêm 0,2%, xấp xỉ 20,5 triệu tỷ đồng.

Tại địa bàn TP.HCM, theo ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó giám đốc NHNN Chi nhánh Khu vực 2, đến cuối tháng 9/2026, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn ước đạt 5,8 triệu tỷ đồng, tăng 11,4% so với cuối năm 2025 và tăng 18,7% so với cùng kỳ; tổng huy động vốn đạt 5.879.300 tỷ đồng, tăng 11,72% so với cuối năm 2025.

Mặt bằng lãi suất cao chủ yếu đến từ sự mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và huy động. Chênh lệch có thời điểm gần 2 triệu tỷ đồng buộc các nhà băng chạy đua hút tiền gửi tiết kiệm, cộng thêm huy động các nguồn bổ sung như phát hành giấy tờ có giá, vay mượn lẫn nhau (liên ngân hàng) và tiền gửi Kho bạc Nhà nước. Tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn trong 9 tháng đầu năm khi nhu cầu vốn cho đầu tư, sản xuất - kinh doanh tiếp tục gia tăng. Theo báo cáo kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026 của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tính đến ngày 28/9/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,78% so với cuối năm 2025, trong khi tín dụng của nền kinh tế tăng 10,89%. Cùng thời điểm năm trước, hai mức tăng tương ứng là 9,99% và 13,37%.

NHNN và Chính phủ đang nỗ lực giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và bình ổn giá cả. Dù vậy, bối cảnh toàn cầu đặt ra nhiều thách thức khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất trở lại và giá năng lượng leo thang, đẩy chi phí đầu vào lên cao, cơ quan điều hành đang phải đồng thời giải bài toán khó: ổn định lãi suất, cân đối tỷ giá và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

UOB cho rằng, lạm phát hiện đã vượt mức trần mục tiêu 4,5%, tín dụng đang cao hơn tăng trưởng huy động và tốc độ tăng trưởng kinh tế đang tiến gần mức hai chữ số, những điều này làm gia tăng đáng kể áp lực thắt chặt chính sách tiền tệ, nhất là trong bối cảnh Fed được dự báo tiếp tục nâng lãi suất. Song theo UOB, việc thắt chặt tiền tệ có thể không mang lại nhiều hiệu quả trong việc kiềm chế các áp lực lạm phát chủ yếu đến từ phía cung, đồng thời có nguy cơ làm suy giảm động lực tăng trưởng kinh tế. Trong kịch bản cơ sở, UOB tiếp tục kỳ vọng NHNN sẽ giữ nguyên lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%/năm đến hết năm 2027, đồng thời sử dụng các công cụ thị trường mở, hạn mức tăng trưởng tín dụng để điều tiết thanh khoản, tuy nhiên, rủi ro hiện đã nghiêng nhiều hơn về khả năng tăng lãi suất.

Vụ trưởng Chính sách tiền tệ NHNN Phạm Chí Quang cho biết, lãi suất toàn cầu đang tăng nhanh và Việt Nam không nằm ngoài xu hướng đó. Fed đã nâng lãi suất thêm 0,25%/năm, lên mức 3,75 - 4%/năm và dự kiến tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ trong tháng 12/2026. Tuy nhiên, NHNN sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành, tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp.

Trong khi đó, theo dự báo của Công ty Chứng khoán VNDIRECT, mặt bằng lãi suất có thể hạ nhiệt rõ nét từ đầu năm 2027. Áp lực từ môi trường quốc tế khi đó được dự báo suy giảm, giúp NHNN thuận lợi hơn trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Các giải pháp hỗ trợ thanh khoản thời gian qua sẽ thẩm thấu sâu hơn.

Thùy Vinh

Tin liên quan

Tin cùng chuyên mục