Ông nhìn nhận đâu là những trụ cột quan trọng nhất giúp kinh tế Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng 2 chữ số năm nay?
Năm 2026, Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ với nền tảng vĩ mô ổn định. Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt trên 8% và Chính phủ đặt mục tiêu hướng tới mức tăng trưởng 2 chữ số trong năm nay. Động lực chính đến từ chương trình đầu tư công quy mô lớn, với kế hoạch giải ngân có thể tăng tới 53% so với mức 732.000 tỷ đồng của năm 2025. Các dự án cao tốc, đường sắt đô thị, điện và cảng biển - được dẫn dắt bởi doanh nghiệp nhà nước và sự tham gia ngày càng mạnh của khu vực tư nhân - tạo ra hiệu ứng lan tỏa đáng kể, thúc đẩy việc làm và dòng tiền trong các ngành xây dựng, vật liệu, logistics và bất động sản.
| |
Ông Phan Duy Hưng - Giám đốc, chuyên gia Phân tích cao cấp Khối Xếp hạng tín nhiệm và Nghiên cứu của VIS Rating |
Song song với đó, nhiều chính sách của Chính phủ nhằm giải quyết các vướng mắc về pháp lý đã thúc đẩy hoạt động kinh doanh, đẩy mạnh nhu cầu tín dụng trong trong các ngành chính mà ngân hàng cho vay như sản xuất, thương mại, xây dựng và bất động sản. Chúng tôi dự báo EBITDA (lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao) bình quân của các doanh nghiệp được xếp hạng trong năm 2026 tăng khoảng 22%, tương đồng với mức tăng dự kiến 21% của tổng nợ. Ngành xây dựng và vật liệu xây dựng là những ngành được hưởng lợi đáng kể từ việc đẩy mạnh đầu tư hạ tầng và sự phục hồi của thị trường bất động sản, với doanh thu dự kiến tăng 15-20%. Nhờ đó, hồ sơ tín nhiệm của các doanh nghiệp trong ngành này được cải thiện rõ rệt từ mức tương đối thấp trong giai đoạn trước. Đối với các doanh nghiệp bất động sản nhà ở, đòn bẩy dự kiến duy trì ổn định và rủi ro tái cấp vốn ở mức kiểm soát được nhờ EBITDA tăng 20-25%, cải thiện khả năng tiếp cận thị trường trái phiếu doanh nghiệp và dòng tiền từ hoạt động bán hàng phục hồi.
Tiêu dùng nội địa được dự báo hồi phục nhẹ, với dự phóng tăng trưởng doanh số bán lẻ năm 2026 khoảng 10%, cao hơn so với mức bình quân 8% trong giai đoạn 2022-2025. Động lực chính đến từ sự tăng trưởng mạnh mẽ khách du lịch quốc tế và các biện pháp kích cầu như giảm thuế, tăng an sinh xã hội...
Một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP đến từ hệ thống ngân hàng. Song, từ thực tế mất cân đối kỳ hạn kéo dài nhiều năm, thách thức thanh khoản đang đặt ra cho hệ thống ngân hàng Việt Nam ra sao, nhất là khi nhu cầu vốn trung - dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn?
Trong nhiều năm, thanh khoản là thách thức đáng kể đối với các ngân hàng Việt Nam do sự mất cân đối về kỳ hạn: Nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn, trong khi nhu cầu vay dài hạn từ doanh nghiệp lại rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh đầu tư công đang được đẩy mạnh như hiện nay. Điều này khiến rủi ro thanh khoản gia tăng, đặc biệt đối với nhóm ngân hàng nhỏ - những đơn vị phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn ngắn hạn từ thị trường liên ngân hàng (thị trường 2) và có bộ đệm thanh khoản hạn chế, dễ bị tổn thương khi chi phí vốn tăng hoặc thị trường biến động.
Bước sang năm 2026, định hướng tăng trưởng tín dụng ở mức 15%, thấp hơn mức 19% của năm 2025, được kỳ vọng sẽ giúp giảm áp lực lên thanh khoản của hệ thống, hạn chế rủi ro tăng trưởng nóng và định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế. Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất huy động tăng từ quý IV/2025 đang hỗ trợ các ngân hàng cải thiện huy động tiền gửi.
Bên cạnh thanh khoản, một vấn đề được VIS Rating nhiều lần nhấn mạnh là rủi ro nội tại của ngân hàng. Những mối liên kết giữa ngân hàng và các tập đoàn, cổ đông lớn hay thành viên hội đồng quản trị có thể làm phát sinh rủi ro quản trị như thế nào?
Theo tôi, đầu tiên, các ngân hàng sẽ đối mặt câu chuyện rủi ro quản trị (governance). Đây là điểm yếu cốt lõi trong hồ sơ tín nhiệm của các ngân hàng Việt Nam so với các nước trong khu vực. Vấn đề tín dụng tập trung cao, tăng trưởng nhanh chóng vào các lĩnh vực có rủi ro, chẳng hạn bất động sản và xây dựng, cùng cho vay bên liên quan, đều xuất phát từ rủi ro quản trị như chúng tôi đã đề cập ở trên.
Trong 3 năm qua (2023-2025), quy mô cho vay các lĩnh vực có rủi ro này ghi nhận tốc độ tăng trưởng kép hàng năm khoảng 23%, vượt xa mức tăng trưởng tín dụng chung của toàn ngành. Như chúng ta đã biết từ các sự kiện trước đây, rủi ro quản trị phát sinh khi các cá nhân nắm giữ vị trí quan trọng trong ngân hàng và các tập đoàn - ví dụ như cổ đông hoặc thành viên hội đồng quản trị, từ đó có thể chi phối hoạt động ngân hàng để phục vụ mục đích cá nhân. Những mối liên kết chặt chẽ này gây ra rủi ro hoạt động và khiến ngân hàng dễ bị tổn thương hơn khi các tập đoàn lớn gặp vấn đề, tác động tới tâm lý thị trường và tạo nên các đợt rút tiền gửi hàng loạt của khách hàng.
Tiếp theo là rủi ro an toàn vốn. Xét trên bình diện khu vực, quy mô vốn và bộ đệm hấp thụ rủi ro của các ngân hàng Việt Nam còn khiêm tốn, đặc biệt tại các ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng tư nhân quy mô nhỏ. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ mức độ sinh lời còn hạn chế, khiến khả năng tạo vốn nội bộ chưa cao, trong khi các kế hoạch huy động vốn mới vẫn thận trọng. Bên cạnh đó, mức độ tập trung tín dụng đáng kể vào các lĩnh vực bất động sản và xây dựng - vốn có rủi ro cao, khiến hệ thống ngân hàng dễ chịu tác động mạnh hơn trước các cú sốc của thị trường.
Một điểm tích cực được ghi nhận trong năm 2026 là các ngân hàng quy mô nhỏ có kế hoạch tăng vốn đáng kể (nhiều ngân hàng quy mô tăng vốn mới chiếm trên 30% vốn chủ sở hữu), từ đó sẽ giúp cải thiện bộ đệm hấp thụ rủi ro của các ngân hàng này so với các ngân hàng quốc doanh.
Với tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu tại các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ đang cao hơn đáng kể so với nhóm ngân hàng lớn, theo ông, đâu là những rủi ro cần theo dõi sát nhất trong năm 2026?
Năm nay, mặt bằng lãi suất và chi phí đi vay dự kiến duy trì ở mức cao hơn so với năm trước, cùng với tác động ngày càng rõ của các chính sách thuế quan của Mỹ, tạo ra nhiều thách thức cho chất lượng tài sản và khả năng sinh lời của nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ.
Thứ nhất, chính sách thuế quan của Mỹ có thể làm chậm tăng trưởng thương mại và giải ngân FDI, gây áp lực lên hoạt động kinh doanh, lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu nội địa và khả năng trả nợ của nhóm khách hàng SME. Chúng tôi ước tính thuế suất trung bình đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ trong năm 2026 ở mức trên 10%, cao hơn mức trung bình khoảng 4% so với các năm trước.
Thứ hai, rủi ro tài sản từ các khoản vay mua bất động sản phục vụ mục đích đầu cơ vẫn hiện hữu. Khi lãi suất cho vay bắt đầu tăng, đòn bẩy tài chính cao sẽ gây áp lực lên khả năng trả nợ của khách hàng vay, đồng thời làm suy yếu nhu cầu đầu tư và khả năng thanh lý tài sản bảo đảm của những phân khúc này. Theo thống kê của VIS Rating, tính đến cuối tháng 9/2025, tỷ lệ nợ quá hạn (nhóm 2-5) của các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ ở mức tương ứng 4,2% và 7,3% - cao hơn nhiều so với các ngân hàng tư nhân quy mô lớn và ngân hàng quốc doanh. Phần lớn các khoản nợ xấu này đến từ cho vay mua đất nền, đất nông nghiệp, hoặc các dự án bất động sản đang vướng mắc pháp lý. Do đó, để xử lý các khoản nợ này, nhiều khả năng ngân hàng sẽ cần phải thực hiện xóa nợ, trích lập dự phòng.
Thứ ba, rủi ro tín dụng đối với bất động sản và năng lượng tái tạo đang gặp vấn đề chậm trả trái phiếu cần được theo dõi chặt chẽ. Mặc dù kỳ vọng dòng tiền của một số doanh nghiệp nhóm này sẽ cải thiện nhẹ trong năm 2026, nhưng mức đòn bẩy cao khiến ngân hàng tiếp tục phải tái cơ cấu khoản vay hoặc xử lý tài sản bảo đảm để giảm thiểu rủi ro chậm trả.