Hiện nhiều ngân hàng chào lãi suất trên 8,5%/năm cho khoản tiền gửi kỳ hạn từ 6 - 12 tháng
Trước cuộc gặp của tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước với lãnh đạo các ngân hàng thương mại chiều 9/4, việc nhiều ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất huy động trong thời gian gần đây, theo ông, đang phát đi “tín hiệu” gì?
Làn sóng tăng lãi suất huy động thời gian gần đây chủ yếu xuất phát từ sự lệch pha ngày càng lớn giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn, sự phụ thuộc của hệ thống ngân hàng vào các nguồn hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn như kênh thị trường mở (OMO), tiền gửi Kho bạc Nhà nước và trở nên trầm trọng hơn trong bối cảnh lạm phát tăng lên do căng thẳng địa chính trị toàn cầu.
Từ đầu năm 2025 đến nay, tăng trưởng tín dụng đã vượt xa huy động vốn. Đáng chú ý, tín dụng trung và dài hạn, đặc biệt cho vay bất động sản cùng với giải ngân đầu tư công tăng mạnh đã khiến nhu cầu vốn của hệ thống ngân hàng gia tăng đáng kể, trong khi nguồn vốn huy động chủ yếu vẫn là tiền gửi ngắn hạn. Sự lệch pha này đã được nhấn mạnh trong nhiều báo cáo ngành ngân hàng của VIS Rating trong nửa đầu năm 2025. Hệ quả là tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) của các ngân hàng niêm yết đã tăng lên gần 110% tại thời điểm cuối năm 2025 - mức cao nhất trong khoảng 5 năm qua và tương đối cao so với các ngân hàng trong khu vực.
![]() |
ông Phan Duy Hưng, CFA, MBA, Giám đốc cấp cao, Ban Định chế tài chính - Khối Xếp hạng tín nhiệm và Nghiên cứu, VIS Rating |
Áp lực thanh khoản trở nên rõ nét hơn tại các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ. Một số ngân hàng ghi nhận sự sụt giảm của tiền gửi không kỳ hạn (CASA), đồng thời phải gia tăng phụ thuộc vào nguồn vốn liên ngân hàng ngắn hạn. Trước thực tế đó, các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động để đảm bảo nguồn vốn. Theo thống kê từ tháng 10/2025 đến nay, lãi suất huy động niêm yết đã tăng khoảng 0,9 - 1,35%/năm. Tuy nhiên, trên thực tế, chi phí vốn mà nhiều ngân hàng phải trả để thu hút dòng tiền gửi còn cao hơn đáng kể so với mức niêm yết, có thời điểm chênh lệch gần 2%/năm. Hiện nay, nhiều khoản tiền gửi kỳ hạn từ 6 - 12 tháng đã được chào ở mức trên 8,5%/năm, tăng mạnh so với đầu năm, phản ánh mức độ cạnh tranh huy động vốn đang gia tăng trong hệ thống.
Bên cạnh đó, áp lực thanh khoản cũng đến từ việc dòng tiền bị rút mạnh về tài khoản tiền gửi của Kho bạc Nhà nước trong bối cảnh thu ngân sách tăng cao. Trong giai đoạn này, nhiều ngân hàng phải dựa nhiều hơn vào các nguồn hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn như tiền gửi Kho bạc Nhà nước và kênh thị trường mở (OMO). Tuy nhiên, đây là các nguồn vốn có tính biến động cao. Việc điều tiết các công cụ OMO cũng được Ngân hàng Nhà nước thực hiện thận trọng hơn tại một số thời điểm, đặc biệt khi áp lực tỷ giá gia tăng. Tính đến cuối tháng 12/2025, dư nợ hỗ trợ qua kênh OMO đã lên tới hơn 409.000 tỷ đồng - mức cao nhất kể từ năm 2017; đồng thời, tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng đến cuối tháng 12/2025 ước đạt khoảng 406.000 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ.
Cuối cùng, áp lực lãi suất càng gia tăng trong bối cảnh rủi ro bên ngoài nổi lên, bao gồm căng thẳng địa chính trị Trung Đông, đẩy giá nhiên liệu tăng và làm gia tăng áp lực lạm phát, tỷ giá trong nước. Khi lãi suất huy động tăng, lãi suất cho vay mới đã bắt đầu điều chỉnh tăng theo. Thực tế, lãi suất cho vay bất động sản mới tại một số ngân hàng quốc doanh gần đây đã lên quanh mức 14%/năm, tương đối cao so với giai đoạn trước.
Diễn biến này nhiều khả năng sẽ làm tăng chi phí vốn và rủi ro tái cấp vốn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp bất động sản và hạ tầng có mức đòn bẩy cao, khả năng chi trả lãi vay hạn chế và áp lực đáo hạn nợ lớn trong ngắn hạn. Do đó, làn sóng tăng lãi suất huy động hiện nay không chỉ là câu chuyện thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng, mà còn có thể tạo ra những tác động lan tỏa đáng kể tới mặt bằng lãi suất cho vay trong thời gian tới. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng và đòn bẩy tiếp tục tích lũy, một số ngân hàng nhóm quy mô vừa và nhỏ sẽ trở nên dễ bị tổn thương hơn trước rủi ro suy giảm chất lượng tài sản kể từ sau năm 2026.
Từ góc độ vĩ mô, lãi suất huy động nhích lên có hàm ý gì về áp lực lạm phát, tỷ giá và dòng vốn trong nền kinh tế?
Về phía rủi ro, chúng tôi đánh giá xung đột Trung Đông có ảnh hưởng bất lợi đối với kinh doanh nói chung và gây áp lực lên chính sách tiền tệ. Trong trường hợp các cú sốc địa chính trị từ bên ngoài tiếp tục kéo dài, tác động lan truyền thông qua kênh tăng giá hàng hóa thương phẩm - nổi bật là dầu thô, áp lực lạm phát trong nước sẽ gia tăng. Trong giai đoạn từ ngày 26/2 - 11/3/2026, giá dầu Brent đã tăng gần 45%, kéo giá nhiên liệu trong nước tăng từ 40 - 60%. Diễn biến này khiến chi phí vận tải tăng mạnh, buộc các doanh nghiệp vận tải điều chỉnh tăng cước phí. Theo Tổng cục Đường bộ Việt Nam, cước vận tải đường bộ trên phạm vi toàn quốc đã tăng từ 10 - 30% trong cùng kỳ.
Mặt bằng lãi suất huy động tăng sẽ làm gia tăng chi phí huy động vốn cho ngân hàng, các ngân hàng sẽ đẩy một phần chi phí này về phía doanh nghiệp thông qua tăng lãi suất cho vay. Đối với dòng vốn trên thị trường trái phiếu, lãi suất tăng sẽ buộc doanh nghiệp phát hành phải nâng lãi suất trái phiếu để thu hút nhà đầu tư.
Những diễn biến này không chỉ tác động tới môi trường vĩ mô mà bắt đầu phản ánh rõ nét vào hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng.
Trong bối cảnh áp lực chi phí vốn gia tăng và môi trường vĩ mô nhiều biến động, ông đánh giá như thế nào về xu hướng biên lãi và hiệu quả sinh lời của ngành ngân hàng?
Trong bối cảnh chi phí vốn gia tăng và mặt bằng lãi suất chịu nhiều áp lực, hiệu quả sinh lời của ngành ngân hàng đang cho thấy sự phân hóa cao. Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân (ROAA) toàn ngành đi ngang ở mức 1,5% trong năm 2025. Kết quả này chủ yếu nhờ một số ngân hàng quy mô lớn ghi nhận chi phí tín dụng giảm và tăng khoản thu từ xử lý, thu hồi nợ xấu, qua đó, bù đắp phần suy giảm của biên lãi ròng.
Ở chiều tăng trưởng, tín dụng toàn hệ thống tăng tốc lên mức 19% trong năm 2025 - cao nhất trong 5 năm trở lại đây, với động lực chính đến từ cho vay doanh nghiệp bất động sản, cho vay mua nhà và lĩnh vực sản xuất. Tuy nhiên, đà tăng trưởng này đi kèm với áp lực chi phí vốn gia tăng, khiến biên lãi ròng (NIM) toàn ngành giảm khoảng 30 điểm cơ bản, xuống còn 3,1%. Xu hướng này thể hiện rõ hơn tại các ngân hàng quy mô vừa và một số ngân hàng nhỏ, nơi chi phí huy động tăng nhanh hơn. Áp lực NIM tại nhóm ngân hàng này còn gia tăng khi hoạt động tín dụng dịch chuyển sang phân khúc doanh nghiệp lớn với mức lãi suất cho vay thấp hơn, tiếp tục kéo giảm ROAA.
Ngoài ra, bên cạnh khó khăn do NIM thu hẹp, nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ còn đối mặt với chi phí tín dụng gia tăng do rủi ro tài sản hiện hữu, đặc biệt từ các khoản cho vay mua nhà và bất động sản mang tính đầu cơ. Khi lãi suất cho vay bắt đầu tăng, mức đòn bẩy tài chính cao gây áp lực đáng kể lên khả năng trả nợ của người vay, đồng thời làm suy yếu nhu cầu đầu tư, cũng như khả năng thanh lý tài sản bảo đảm ở các phân khúc này. Theo thống kê của VIS Rating, trong 9 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ nợ quá hạn (nhóm 2 - 5) tại các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ lần lượt ở mức 4,2% và 7,3%, cao hơn đáng kể so với nhóm ngân hàng tư nhân quy mô lớn và ngân hàng quốc doanh. Phần lớn các khoản nợ xấu phát sinh đến từ cho vay bất động sản trong các phân khúc đầu cơ như đất nền, đất nông nghiệp, hoặc các dự án đang vướng mắc pháp lý. Do đó, trong thời gian tới, nhiều khả năng các ngân hàng này sẽ phải đẩy mạnh trích lập dự phòng và xóa nợ, qua đó tiếp tục gây áp lực lên lợi nhuận và ROAA.
Trong khi đó, bức tranh lợi nhuận của một số ngân hàng quy mô lớn vẫn giữ được sự ổn định, nhờ giảm chi phí tín dụng, gia tăng thu hồi nợ xấu (VietinBank, VPBank), đồng thời cải thiện nguồn thu ngoài lãi như từ công ty chứng khoán (VPBank, HDBank) hoặc phí dịch vụ thanh toán (HDBank).
Bước sang năm 2026, chúng tôi kỳ vọng ROAA toàn ngành sẽ tiếp tục duy trì quanh mức 1,5%, trong bối cảnh NIM sẽ dần ổn định. Triển vọng này được hỗ trợ bởi việc lợi suất cho vay cải thiện nhờ tăng trưởng tín dụng dài hạn, qua đó từng bước bù đắp phần chi phí huy động gia tăng.
